Loading...

Lớp 11

Lớp 11

Cảm nhận về bài thơ "Thu Điếu" của Nguyễn Khuyến.

Cảm nhận về bài thơ "Thu Điếu" của Nguyễn Khuyến.

 14:06 16/05/2017

Đi câu là một cái thú thanh tao của các bậc trí giả. Có bậc hiền nhân có tài, bất đắc chi đi câu để chờ thời. Ngồi trên bờ ai mà nghĩ đến chuyện năm châu bốn biển, nghĩ đến thế sự đảo điên. “Cá ăn đứt nhợ vểnh râu ngồi bờ” (có người còn dùng lưỡi câu thẳng như Khương Tử Nha - Trung Quốc). Có bậc đại nhân vác cần đi câu để hương thú nhàn tản, hòa hợp với thiên nhiên, suy tư trong trạng thái thư giãn. Nguyễn Khuyến đi câu theo kiểu này. Ông đã mở hết các giác quan để cảm nhận mùa thu, cũng là mùa câu của xứ Bắc. Như những đứa trẻ trong xóm, ông câu cá cũng chăm chú, cũng hồi hộp, cũng say mê. Kết quả của cuộc chơi ấy là ông đã được một bài thơ “Thu điếu” vào loại kiệt tác của nền vãn học nước nhà:

Phân tích đoạn trích “Hai tâm trạng” trong tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” của L. Tônxtôi.

Phân tích đoạn trích “Hai tâm trạng” trong tiểu thuyết “Chiến tranh và hòa bình” của L. Tônxtôi.

 09:48 07/05/2017

Lep Nicôlaievits (1982 - 1910) là nhà văn vĩ đại của Nga và thế giới. Ông là tấm gương tìm tòi về sự thật. Một trong những sự thật mà Tônxtôi tìm kiếm suốt đời, đó là tìm hiểu sự thật lịch sử và bản chất tính cách Nga. Về sự thật lịch sử, ông đã dựng lại những biến cố lịch sử trọng đại có liên quan đến vận mệnh toàn dân, dựng lại bức tranh linh hoạt rộng lớn với các tầng lớp xã hội. Từ đó, nhìn nhận và đánh giá các biến cố lịch sử theo quan điểm nhân dân, coi quần chúng nhân dân như người sáng tạo lịch sử, như ngọn nguồn đạo đức và sức mạnh của cộng đồng. Điều này thể hiện qua tất cả các tác phẩm mang tính sự thi, từ Truyện Xevaxtôpôn đến Chiến tranh và hòa bình. Đánh giá cao cống hiến của Tônxtôi, Lênin coi Tônxtôi là “tấm gương phản chiếu cách mạng Nga”.

Đọc “Hạnh phúc một tang gia” (Số đỏ - Vũ Trọng Phụng) và “Đám tang lão Gôriô”(Lão Gôriô – Bazắc) anh chị có suy nghĩ gì không? Hãy phân tích hai đoạn trích để nói cảm nhận của mình.

Đọc “Hạnh phúc một tang gia” (Số đỏ - Vũ Trọng Phụng) và “Đám tang lão Gôriô”(Lão Gôriô – Bazắc) anh chị có suy nghĩ gì không? Hãy phân tích hai đoạn trích để nói cảm nhận của mình.

 08:54 06/05/2017

Có những nhà văn trên thế giới hoàn cảnh sống hoàn toàn khác nhau nhưng lại gặp nhau ở cùng một quan điểm nghệ thuật. Bởi lẽ dù ở thời đại nào thì những vấn đề sâu xa nhất thuộc về bản chất xã hội cũng vẫn cứ gặp nhau, giống nhau, đi chung một con đường và phát triển cùng quy luật.

Phân tích đoạn trích “Đám tang lão Gôriô” của Banzắc.

Phân tích đoạn trích “Đám tang lão Gôriô” của Banzắc.

 08:44 06/05/2017

Đám tang lão Gôriô được đặt vào một không gian, thời gian xác định với những con người và sự kiện có thực xảy ra - một đặc điểm bút pháp hiện thực của Banzắc, đem lại cho người đọc ấn tượng như thật về sự kiện được kể.

Phân tích bài thơ Biển đêm của V.Huy gô

Phân tích bài thơ Biển đêm của V.Huy gô

 08:40 06/05/2017

Vichto Huygô là nhà văn của nước Pháp và nhân loại. Ông là người đứng đầu trường phái lãng mạn Pháp. Với tấm lòng nhân ái cao cả, ông bênh vực những người nghèo khổ chống lại chế độ độc tài của Napôlêông III. Bởi vậy, ông bị lưu đày ở nước ngoài hơn mười chín năm. Sự nghiệp sáng tác của ông rất đồ sộ. Nhiều tác phẩm của ông là kiệt tác của văn học thế giới: “Nhà thờ đức bà Pari”, “Những người khốn khổ”, “Năm chín mươi ba”, “Lá mùa thu”, “Tia sáng và bóng tối”. “Trừng phạt”, “Chiêm ngưỡng”... Sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tác phẩm của ông là niềm tin sâu sắc vào phẩm chất cao quý của người lao động. “Biển đêm” là một bài thơ trong tập thơ “Tia sáng và bóng tối” của Vichto Huygô xuất bản năm 1840. Bài thơ viết về số phận những người thủy thủ.

Phân tích đoạn trích Ngang trái trong vở kịch Âm mưu và tình yêu của Sile.

Phân tích đoạn trích Ngang trái trong vở kịch Âm mưu và tình yêu của Sile.

 08:19 06/05/2017

1. Friđrich Sile (1759 - 1805) vừa là nhà thơ vừa là tác giả kịch xuất sắc của nền văn học Đức thế kỉ XVIII. Sile được ghi nhận như một tác giả lớn của nền văn học thế giới với các tác phẩm kịch nổi tiếng: Những tên cướp, Âm mưu và tình yêu...

Những đóng góp và hạn chế của văn học lãng mạn Việt Nam thời kì 1930 - 1945.

Những đóng góp và hạn chế của văn học lãng mạn Việt Nam thời kì 1930 - 1945.

 08:14 06/05/2017

Trong suốt thời kì tồn tại, từ khoảng năm 1932 cho đến cách mạng tháng Tám 1945, và mãi cho đến những năm gần đây, dòng văn học lãng mạn Việt Nam đã chịu không ít những lời phê phán, có khi rất dữ dội. Nhưng nói gì thì nói, dòng văn học ấy đã thuộc về nên văn học Việt Nam, một thời nó đã hấp dẫn, tác động đến một bộ phận không nhỏ người thưởng thức văn học, đặc biệt là lớp người trẻ tuổi có ít nhiều học vấn. Ngày nay, khi đã ở cách xa dòng văn học ấy một khoảng thời gian gần nửa thế kỉ, ta có thể bình tĩnh đánh giá nó thấu đáo hơn, công bằng hơn, và cũng độ lượng hơn.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: “Thơ hay là thơ giản dị … là điều bí mật”. Anh (chị) hãy bình luận nhận định trên. Liên hệ với thực tế Thơ mới 1932 - 1945 để làm rõ ý kiến của anh (chị).

Nhà thơ Trần Đăng Khoa cho rằng: “Thơ hay là thơ giản dị … là điều bí mật”. Anh (chị) hãy bình luận nhận định trên. Liên hệ với thực tế Thơ mới 1932 - 1945 để làm rõ ý kiến của anh (chị).

 08:10 06/05/2017

Có những bài thơ khi đi qua đời ta, giản dị và mong manh, với những nhịp đập rất mực mảnh mai êm ái của trái tim, những rung động mơ hồ của cảm xúc... nhưng đã để lại trong ta một nốt nhấn cứ ngân nga, ngân nga mãi... Những nốt nhấn cảm xúc, ấy đeo đẳng, ám ảnh suốt một đời, làm ta xúc động và trăn trở.

Anh (chị) hãy nêu cảm nghĩ của mình về cảnh kết thúc truyện Chí Phèo.

Anh (chị) hãy nêu cảm nghĩ của mình về cảnh kết thúc truyện Chí Phèo.

 08:02 06/05/2017

Truyện ngắn Nam Cao trước cách mạng tháng Tám là thế giới của những số phận bi thảm, nhưng bi kịch đầy xót xa của những kiếp dân cày cùng cực trong xã hội thực dân phong kiến. Chính ở đó, tôi đã gặp, đã biết và đã khóc cho số phận con người - Chí Phèo (Truyện “Chí Phèo”) Người ta gọi Chí Phèo là một thằng lưu manh, côn đồ một gã « đầu bò”, một quỷ dữ. Cả cái làng Vũ Đại sợ Hắn, ghê tởm hắn như thể hắn chui từ địa ngục lên chứ không phải ở tù ra. Mà nói cho cùng thì nhà tù thời ấy nào có khác gì địa ngục. Cũng toàn những kẻ “đầu trâu mặt ngựa”, với những thủ đoạn, mưu mô đủ để biến một chàng trai lực điền khỏe mạnh thành kẻ có bộ dạng “trông gớm chết!”: đầu “trọc lốc”, răng “trắng hớn”, cái mặt “cơng cơng” chằng chịt những vết sẹo ngang, sẹo dọc. Bi kịch của Chí Phèo có lẽ bắt đầu từ cái ngày bà ba trẻ đẹp của ông Lý Kiến bắt hắn lên “bóp chân”, “xoa bụng”, “đấm lưng” mà ông Lý lại được cái “khỏe ghen”. Vậy là làng Vũ Đại mất đi một anh canh điền hiền lành rồi thay vào đó là kẻ lưu manh Chí Phèo. Hắn cứ sống vất vưởng, côn đồ, quậy phá, ăn vạ, say sưa như thế cho đến ngày gặp Thị Nở. Cứ tưởng rằng đau khổ của Chí sẽ chấm dứt, cuộc đời đang ở bên kia dốc của Chí sẽ ấm lại với “bát cháo hành bốc khói”, với tình yêu thương quê mùa, chân chất, đơn giản của một người đàn bà cũng không kém phần giản đơn, quê mùa như thế. Nhưng trời ơi, đó lại là khởi đầu của một bi kịch mới - bi kịch lớn nhất, thảm nhất, xót xa nhất trong đời Chí Phèo! Chính cái lúc Chí tỉnh rượu, lúc chí cảm nhận được sống ấy, tình yêu ấy cũng là lúc Chí nhận ra một sự thực đau lòng: cuộc đời không dang tay đón Chí, không chấp nhận cho Chí làm lại “con người lương thiện”, không cho Chí một con đường về... Đau đớn quá! Đoạn kết trong tác phẩm chính là cao trào của bi kịch ấy.

Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao

Phân tích truyện ngắn “Đời thừa” của Nam Cao

 07:57 06/05/2017

Truyện ngắn Đời thừa viết năm 1943. Có thể xem Đời thừa, về mặt chủ đề, góp phần chuẩn bị trực tiếp cho tiểu thuyết Sống mòn của nhà văn hoàn thành vào năm sau đó, năm 1944. Không phải ngẫu nhiên mà cả hai tác phẩm đều có tính chất tự truyện và nhan đề đều bộc lộ một tâm trạng, một tư tưởng sáng tạo gần gũi nhau.

Hãy tìm hiểu những ý kiến dưới đây nhằm làm rõ một nét trong cách nhìn đời, nhìn người đầy tinh thần nhân đạo của Nam Cao: Nhà văn Nam Cao đã từng lấy lời của Francois Coppee ...  không bao giờ ta thương... (bài 2)

Hãy tìm hiểu những ý kiến dưới đây nhằm làm rõ một nét trong cách nhìn đời, nhìn người đầy tinh thần nhân đạo của Nam Cao: Nhà văn Nam Cao đã từng lấy lời của Francois Coppee ... không bao giờ ta thương... (bài 2)

 11:42 26/04/2017

Cùng với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Nam Cao bước vào nhà trường phổ thông với một khuôn mặt khá đậm nét, một tư cách nhà văn nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc, tiêu biểu cho những giá trị tinh thần cao cả nhất của dân tộc Việt Nam chúng ta. Tác phẩm của ông được giảng chính thức cả hai cấp học: Lão Hạc (lớp 8). Đời thừa, Chí Phèo (lớp 11), Đôi mắt (lớp 12). Ngoài ra, còn truyện Một đám cưới, Trăng sáng và rất nhiều đoạn văn trích của Nạm Cao được in trong SGK để đọc thêm.

Hãy tìm hiểu những ý kiến dưới đây nhằm làm rõ một nét trong cách nhìn đời, nhìn người đầy tinh thần nhân đạo của Nam Cao:

Hãy tìm hiểu những ý kiến dưới đây nhằm làm rõ một nét trong cách nhìn đời, nhìn người đầy tinh thần nhân đạo của Nam Cao:

 11:34 26/04/2017

Nhà văn Nam Cao đã từng lấy lời của Francois Coppee (1842 - 1908), nhà văn, nhà thơ Pháp làm đề từ cho truyện ngắn Nước mắt của mình: “Người ta chí xấu xa, hư hỏng trước đôi mắt ráo hoảnh của phường ích kỉ, và nước mắt là một miếng kính biển hình vũ trụ”. Rồi trong truyện ngắn Lão Hạc, Nam Cao lại viết: “Chao ôi! Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ, thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi... toàn những cớ để cho ta tàn nhân, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương, không bao giờ ta thương...

Phân tích tính cách nhân vật Xuân tóc đỏ trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.

Phân tích tính cách nhân vật Xuân tóc đỏ trong tác phẩm Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.

 11:27 26/04/2017

Có ai ngờ một cái tên Xuân bình thường kết hợp với hai chữ “tóc đỏ” cũng bình thường lại trở thành tên gọi nổi tiếng của một kiểu người trong xã hội, đưa đến sự bất tử cho một tác phẩm có thể làm vinh quang cho bất kì nền, văn học nào: tiểu thuyết Số đỏ của Vũ Trọng Phụng.

Cảm nhận của anh (chị) sau khi đọc truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam (Bài 3)

Cảm nhận của anh (chị) sau khi đọc truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam (Bài 3)

 11:25 26/04/2017

Có một thời, lối “tư duy từ điển” đã làm bó tay không ít người nghiên cứu văn học Việt Nam, đẩy họ đến tình trạng lay hoay trong “cái rọ” của khái niệm. Dựa vào khái niệm, người ta khảo cứu văn chương như một thực thể bị chia cắt một cách siêu hình thành những dòng, những khuynh hướng khác nhau. Khi đem những tiêu chỉ của chủ nghĩa hiện thực phê phán qui chiếu vào văn học 1930 - 1945 sẽ dễ thấy nổi lên tác phẩm của Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan... còn nhiều sáng tác của Thanh Tịnh, Thạch Lam... Như bị lùa vào cái dòng lãng mạn (mà lãng mạn trong cái dân tộc lầm than thì không thể tha thứ!). Tuy nhiên, lịch sử bao giờ cũng mang tính khách quan của nó, “tư duy mới” đã gạt bỏ những hướng đi duy lí chủ quan, để tuy chậm, song chưa muộn, mấy năm gần đây Thạch Lam và một số “danh bút” của một thời văn chương được khẳng định trở lại.

Cảm nhận của anh (chị) sau khi đọc truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam (Bài 2)

Cảm nhận của anh (chị) sau khi đọc truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam (Bài 2)

 11:12 26/04/2017

Nếu để ý kỹ thấy có một điều rất lạ: Trong các văn phẩm Thạch Lam, bóng tối hiện diện tràn lan với tất cả các sắc độ đậm nhạt khác nhau của nó. Hãy chưa kể đến Hai đứa trẻ, ở rất nhiều câu chuyện, và có thể nói là hầu hết, bóng tối lại cứ có mặt, cứ lại thấy các nhân vật âm thầm trong bóng tối cả. Tối ba mươi. Trong bóng tối buổi chiều, toàn bóng tối đã hắn rồi! Ở những truyện khác, bằng một cách hết sức tự nhiên, các nhân vật của Thạch Lam thể nào cũng lại có lúc ăn nói, nghĩ ngợi, đi về trong bóng tối (Người lính cũ, Đói, Người đầm, Tiếng chim kêu, Cô hàng xén.,.); hoặc trong bóng tối ở một sắc độ nhẹ hơn là những bóng rợp (Dưới bóng hoàng lan), bóng trăng (Nhà mẹ Lê), bóng đèn (Người bạn trẻ) v.v... Nếu nhìn sang các nhà văn khác cùng thời, đương nhiên nhiều khi họ cũng dùng khung cảnh đêm tối, nhưng rõ ràng là không nhiều, Vả lại đêm tối của họ chỉ thuần là việc tuân theo thời gian tự nhiên, chảy trôi tuần tự hết ngày sang đêm, là chuyện thường tình, không hàm một nghĩa gì đặc biệt. Ví như Nam Cao chẳng hạn, ngoài chuyện trăng sáng, Nửa đêm — thời gian không gian đêm chỉ có ý nghĩa vật lý - còn lại hầu hết các truyện các, câu chuyện cứ xảy ra ngang nhiên giữa thanh thiên bạch nhật, các nhân vật cứ cọ sát, sôi sục, căng thẳng, nhức nhối, quyết liệt. Vậy thì bóng tối trong văn Thạch Lam hẳn là có duyên cớ và mang một ý nghĩa gì đặc biệt...

Cảm nhận của anh (chị) sau khi đọc truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam (Bài 1)

Cảm nhận của anh (chị) sau khi đọc truyện “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam (Bài 1)

 11:09 26/04/2017

Không hiểu sao, cứ mỗi lần đọc xong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, gấp trang sách lại rồi, dường như tôi vẫn âm vang tiếng trống thu không, cái tiếng trống phát ra “trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều”. Tiếng trống ấy vốn là thứ âm thanh bình thản để báo giờ khắc. Nhưng trong câu văn Thạch Lam nó không còn dửng dưng, bình thản nữa. Trong buổi chiều quê “êm ả như ru”, trong khung cảnh “phương Tây đỏ rực như lửa cháy và những đảm mây ánh hồng như hòn than sắp tàn” thì tiếng trống vang lên tha thiết như một tiếng gọi, thức dậy ở cảnh vật, ở lòng người cảm giác bâng khuâng. Và trong buổi chiều quê tĩnh lặng ấy nó như vang xa hơn, lay động lòng người nhiều hơn. Nguyễn Tuân có nói rằng, với ông khó nhất khi viết truyện là tạo được một không khí nào đó. Khi tạo được rồi thì mạch truyện cứ thế mà tuôn chảy. Thạch Lam, với tiếng trống thu không thể bắt đầu câu chuyện về những con người bé nhỏ, đã tạo được một không khí riêng, một mạch nhịp riêng cho thiên truyện của mình.

Nhận xét về đặc điểm truyện ngắn của Thạch Lam, nhà văn Nguyễn Tuân cho rằng: “Nhiều truyện ngắn của Thạch Lam không có chuyện mà man mác như một bài thơ (...) đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm, thơm lành mát dịu”.

Nhận xét về đặc điểm truyện ngắn của Thạch Lam, nhà văn Nguyễn Tuân cho rằng: “Nhiều truyện ngắn của Thạch Lam không có chuyện mà man mác như một bài thơ (...) đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm, thơm lành mát dịu”.

 11:00 26/04/2017

Anh (chị) hãy chứng minh ý kiến trên.

Trong vườn hoa văn học Việt Nam xuất hiện nhiều bông hoa tươi đẹp. Chen giữa những đóa hoa rực rỡ muôn hồng ngàn tía có một loài hoa thanh khiết sắc hương hoa mộc. Đọc văn Thạch Lam, người ta nhận thấy mùi hương hoa mộc tha thiết, dịu dàng đưa hồn người đắm chìm trong những cảm xúc mênh mông, chan chứa tình thương. Đúng như lời nhận định của nhà văn Nguyễn Tuân: “Nhiều truyện ngắn Thạch Lam không có truyện mà man mác như một bài thơ, (...), đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm, thơm lành và mát dịu”.

Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.

Phân tích hình tượng nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.

 10:57 26/04/2017

Cái đẹp hay cái xấu là những khái niệm thường được nhắc tới trong cuộc sống của con người. Nhà văn là con người có cách kết tụ chúng lại thành những mảnh đậm, gây ấn tượng mạnh. Trong truyện ngắn của mình, với hình ảnh nhận vật Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã tập trung được gần như hoàn thiện những vẻ đẹp thanh cao, tinh khiết đã và đang tản mạn trong cuộc đời.

Loading...
XEM NHIỀU TRONG TUẦN
Loading...