Bày tỏ suy nghĩ của mình về hai câu thơ: Đau đớn thay thân phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Thứ hai - 01/03/2021 09:11
Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã viết:
Đau đớn thay thân phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.
Qua việc phân tích tác phẩm Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ và các đoạn trích trong truyện Kiều của Nguyễn Du, em hãy bày tỏ suy nghĩ của mình về hai câu thơ trên.

I. Dàn ý

1. Mở bài:
– Số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến là một mảng đề tài được nói tới nhiều trong văn học trung đại Việt Nam. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ và Truyện Kiều của Nguyễn Du là hai tác phẩm thành công ở  mảng đề tài này.
– Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ với số phận bất hạnh của người phụ nữ qua hai câu thơ tuyệt bút:
Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung.

2. Thân bài:
1. Hình ảnh người phụ nữ trong các tác phẩm của Nguyễn Dữ và Nguyễn Du đều là những con người có nhiều phẩm chất tốt đẹp
– Vũ Nương là một cô gái tư dung tốt đẹp, nết na, thùy mị, biết giữ gìn khuôn phép, hiếu thuận với mẹ chồng, yêu thương chồng con hết mực.
– Thúy Kiều là một cô gái tài sắc vẹn toàn, sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, giỏi cả cầm kì thi họa, lại có trí thông minh thiên bẩm. Kiều cũng là cô gái hiếu nghĩa, vị tha, hi sinh cho người khác… Những người con gái như thế những tưởng phải được sống cuộc đời hạnh phúc, êm ấm, nhưng số phận lại không mỉm cười với họ
2. Số phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến
– Hai câu thơ của Nguyễn Du là lời đồng cảm, chia sẻ đầy xót xa của tác giả trước số phận bất hạnh của người phụ nữ. Vũ Nương và Thúy Kiều, mỗi người một hoàn cảnh, một cuộc đời nhưng đại thi hào đã khái quát: bạc mệnh chính là lời chung của họ.
– Vũ Nương chính là nạn nhân của chế độ phong kiến nam quyền đầy bất công đối với người phụ nữ:
+ Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh vốn là cuộc hôn nhân không môn đăng hộ đối, sự không bình đẳng về giai cấp người giàu – người nghèo làm cho Vũ Nương luôn phải sống trong mặc cảm: “thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu”. Sự bất bình đẳng cũng chính là cái thế để Trương Sinh đối xử với vợ một cách vũ phu, táo bạo, gia trưởng.
+ Chiến tranh phi nghĩa đã làm cho vợ phải xa chồng, Vũ Nương chưa được hưởng cuộc sống hương lửa mặn nồng thì Trương Sinh đã phải tham gia chiến trận.
+ Khi trở về, chỉ vì nghe lời con trẻ, Trương Sinh đã ghen tuông mù quáng, đối xử tàn nhẫn với vợ. Danh dự bị xúc phạm, không thể minh oan, Vũ Nương đã trầm mình xuống sông tự vẫn.
– Thúy Kiều lại là nạn nhân của xã hội đồng tiền đen bạc:
+ Vì tiền mà gia đình Kiều lâm vào cơn nguy biến, thằng bán tơ vu oan, bọn sai nha ập đến gây ra cảnh tan tác, chia lìa.
+ Vì để có tiền cứu cha và em, Kiều đã phải hi sinh mối tình đầu đẹp đẽ, bán mình chuộc cha, rồi rơi vào tay Mà Giám Sinh và Tú Bà – bọn buôn thịt bán người.
+ Mười lăm năm lưu lạc, Kiều đã phải “thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần” bị vùi dập, bị chà đạp, cứ mỗi lần nỗ lực vươn lên thì lại bị xã hội nhấn chìm sâu hơn nữa xuống vũng bùn nhơ nhớp.
+ Kiều cũng đã trầm mình xuống sông Tiền Đường tự vẫn vì quá đau khổ, tuyệt vọng…
3. Kết bài:
– Những số phận như Vũ Nương, Thúy Kiều đều là nạn nhân của xã hội phong kiến bất công, chà đạp lên danh dự, nhân phẩm, quyền sống và quyền hạnh phúc của người phụ nữ.
– Qua số phận của họ, ta cũng thấy rõ trái tim nhân hậu, tấm lòng nhân đạo cao cả, thái độ trân trọng, ngợi ca con người (đặc biệt là người phụ nữ) của những nhà văn chân chính..
 

II. Bài làm

Trong văn học trung đại đã có nhiều tác giả viết về đề tài người phụ nữ Việt Nam trong xã hội phong kiến. Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ và Truyện Kiều của Nguyễn Du là hai tác phẩm thành công ở mảng đề tài này. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã bày tỏ sự đồng cảm, chia sẻ với số phận bất hạnh của người phụ nữ qua hai câu thơ tuyệt bút:

Đau đớn thay phận đàn bà
Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung

Vũ Nương là một người phụ nữ xuất thân bình dân, có “tư dung tốt đẹp”. Nàng được Trương Sinh con trai nhà hào phú trong làng “mang trăm lạng vàng” cưới về làm vợ. Nhưng chính sự không bình đẳng trong quan hệ gia đình, đồng tiền đã phát huy “sức mạnh” của nó khiến cho Vũ Nương luôn sống trong mặc cảm “con kẻ khó, được nương tựa nhà giàu”. Biết chồng bản tính đa nghi, nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng có mối thất hoà. Cuộc sum vầy chưa được bao lâu, Trương Sinh bị bắt đi lính. Khi tiễn chồng ra trận, nàng rót chén rượu đầy và nói những lời dặn dò đượm tình thuỷ chung : “Thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ…”. Điều ước ao lớn nhất của nàng không phải là danh vọng, tiền bạc mà là một cuộc sống gia đình đầm ấm yên vui. Trong những ngày tháng chồng đi xa, một mình nàng phải chèo lái con thuyền gia đình. Nàng chăm sóc, thuốc thang cho mẹ chồng đau ốm, bệnh tật như đối với cha mẹ đẻ.

Sự hiếu thảo của nàng khiến bà hết sức cảm động, trước khi qua đời bà đã nhắn nhủ: “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức, giống nòi tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ.”. Không chỉ vậy nàng còn phải chăm lo cho đứa con thơ vừa lọt lòng. Vì thương con, lo cho con thiếu thốn hình bóng người cha và cũng để nàng gửi gắm nỗi nhớ thương, mong mỏi chồng, Vũ Nương đã nghĩ ra trò cái bóng. Đêm đêm, nàng chỉ vào cái bóng của mình trên tường và nói với đứa con nhổ rằng đó là cha nó. Xã hội phong kiến trong buổi suy tàn khiến con người luôn cảm thấy bất an : chỉ một trò đùa, một vật vô tri, vô giác như cái bóng cũng khiến hạnh phúc gia đình tan vỡ. Qua năm sau, việc quân kết thúc, Trương Sinh về tới nhà. Nghe lời của đứa con, chàng chẳng thèm suy nghĩ dù đó là lời nói của một đứa trẻ hồn nhiên, ngây thơ và quá mập mờ. Trương Sinh mắng nhiếc vợ rồi đánh đuổi nàng đi, không cho nàng giải thích. Nàng thật sự thất vọng. Hạnh phúc gia đình đã tan vỡ.

Tình yêu, lòng tin không còn. Thất vọng đến tột cùng, chán chường vô hạn, nàng đã tìm đến cái chết để thanh minh cho bản thân. Niềm tin vào cuộc sống đã mất khiến cho Vũ Nương không thể trở về với cuộc sống trần gian dù điều kiện có thể.

Thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến cũng đều giống như Vũ Nương. Số phận của họ như đã được định đoạt từ trước. Sinh ra mang kiếp đàn bà thì dù giàu nghèo sang hèn không trừ một ai, lời “bạc mệnh” cũng đã trở thành “lời chung” - như Nguyễn Du đã viết trong Truyện Kiều.

Và đến Thúy Kiều trong “Truyện Kiều” - tiếng kêu thương thống thiết, ai oán, não nùng của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Số phận của nàng còn lênh đênh hơn Vũ Nương rất nhiều. Lần này, dưới chế độ đồng tiền hôi tanh đen bạc. Nó đã tạo ra mười lăm năm đau đớn phiêu bạt của nàng Kiều xinh đẹp. Chỉ vì tiền mà bọn sai nha đã gây nên cảnh tan tác, chia lìa của gia đình Kiều. Để có tiền cứu cha và em trai của mình, nàng đã quyết định bán thân cho Mã Giám Sinh - một tên gian ác buôn thịt bán người. Và Kiều bỗng trở thành một món hàng để cho hắn cân đong, đo đếm, cò kè, ngã giá... Và từ tay Mã Giám Sinh đểu cáng thì Kiều đã rơi vào tay Tú Bà, mụ chủ nổi tiếng của thanh lâu. Là một người con gái xinh đẹp, tài năng, và đã sinh trưởng trong một gia đình trung lưu, lương thiện gia giáo, dòng dõi cao quý, nên Thúy Kiều không thể chấp nhận trở thành gái lầu xanh. Nàng cay đắng chịu đựng những trận đòn tàn khốc của Tú Bà, nàng đã đi tìm cái chết nhưng không được vì bị Tú bà bắt gặp. Tú Bà đã bày muốn thuê Sở Khanh lừa nàng, buộc nàng trở thành một cô gái lầu xanh thực thụ. Thế là nàng đau đớn, cay đắng cam chịu số phận dấn thân vào cuộc sống ô nhục. Đau đớn thay! Từ một cô gái trong trắng, đức hạnh, nàng đã trở thành một món đồ chơi thú vị cho bọn khách chơi. Số phận trái ngang của Kiều không chỉ dừng lại ở đây mà số phận của nàng còn lênh đênh, bèo dạt, mây trôi và lưu lạc mười lăm năm trời, đã chịu bao nhiêu tai họa giáng xuống đầu.

Họ là nạn nhân của chế độ phong kiến với những điều luật hà khắc, bất công với nữ nhi. Ở đó sinh mạng người phụ nữ không được coi trọng, họ bị mua bán, trả giá một cách công khai. Ở cái xã hội ấy, họ chỉ như một thứ đồ vật vô tri, không được có ý kiến hay thanh minh cho bản thân.

Điểm giống nhau của hai nhân vật này là họ đều là những người phụ nữ xinh đẹp, tài năng và đức hạnh. Họ đều là nạn nhân của xã hội phong kiến với đầy rẫy những bất công. Xã hội mà thân phận người phụ nữ luôn bị coi rẻ, khinh thường và vùi dập không thương tiếc. Vũ Nương hay Thúy Kiều đều là những người phụ nữ đại diện cho hình ảnh người phụ nữ Việt Nam trong xã hội xưa. Khi viết về người phụ nữ, cả Nguyễn Dữ và Nguyễn Du đều đứng trên tư tưởng nhân đạo để bênh vực cho họ, lên tiếng tố cáo xã hội đã chà đạp cuộc đời của họ.

Tóm lại, qua phân tích trên, người đọc dường như thấu hiểu hơn cho người phụ nữ. Vũ Nương và Thúy Kiều chính là một trong những nhân vật tiêu biểu đại diện cho người phụ nữ Việt Nam thời xưa.
​​​​​

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

THÀNH VIÊN

Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây