Nêu cách thể hiện thủ pháp nghệ thuật tương phản trong truyện Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn

Thứ năm - 12/11/2020 09:32

Thế nào là nghệ thuật tương phản? Nêu cách thể hiện thủ pháp nghệ thuật ấy trong truyện “Sống chết mặc bay” (Phạm Duy Tốn) và tác dụng của nó.

Bài 1:
Phép tương phản (cũng gọi là đối lập) trong nghệ thuật là việc tạo ra những hành động những cảnh tượng, những tính cách trái ngược nhau để qua đó làm nổi bật một ý tưởng bộ phận trong tác phẩm hoặc tư tưởng chính của tác phẩm (sách giáo khoa Ngữ văn 7 - tập 2). Với nội dung như thế, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định Phạm Duy Tốn đã tạo được thành công xuất sắc trong việc sử dụng thủ pháp nghệ thuật ấy trong truyện ngắn “Sống chết mặc bay”, một “bông hoa đầu mùa của truyện ngắn hiện đại Việt Nam”.

Bằng phép tương phản, Phạm Duy Tốn đã dựng lên trước mắt người đọc hai bức tranh về những người dân đang vất vả đấu tranh với thiên tai. Trong bốn thứ giặc: thuỷ - hoả - đạo - tặc, nhân dân đã xếp giặc nước - lũ lụt lên hàng đầu. Điều đó cho ta thấy sức mạnh của thiên nhiên nước to lớn và khủng khiếp như thế nào, đê vỡ thì tình cảm sẽ nguy khôn ra sao. Chính vì thế mà “gần một giờ đêm”, dân phu kể hàng trăm nghìn con người vẫn đang vật lộn dưới trời mưa để cứu bằng được con đê. Không phải họ mới bắt đầu công việc mà họ đang tiếp tục chiến đấu “suốt từ chiều đến giờ”. Càng khuya tình thế càng trở nên khó khăn. Đáng lẽ giờ này, họ phải được nằm ngủ trong ngôi nhà ấm cúng thì lại đang vắt kiệt sức và căng thẳng mệt mỏi đến cao độ. Đây đúng là một bức tranh hết sức lộn xộn, nhốn nháo. Trong cái âm thanh ầm ĩ của trống, của ốc thổi vô hồi, tiếng xao xác của những người gọi nhau, những con người mệt lử vừa đói vừa khát đang cố gắng một cách bất lực với nguy hiểm, kẻ thì thuổng người thì cuốc, kẻ đội đất, kẻ vác tre, nào đắp nào cừ... người nào người nấy “lướt thướt như chuột lột”. Ngay từ những dòng chữ đầu tiên, ngôn ngữ miêu tả xác thực, sống động cùng nhịp điệu dồn dập gấp gáp, tác giả đã cuốn người đọc vào cái không khí đầy hỗn loạn ấy. Nhưng tất cả mọi cố gắng của con người chỉ là vô ích. Từ láy “tầm tã”, “cuồn cuộn” nối tiếp nhau để chỉ sức nước đang đe dọa khúc đê đang núng thế và tính mạng của những người hộ đê ngày một gần: “Than ôi! Sức người khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê không sao cự lại được với thế nước”. Hàng trăm nghìn con người vẫn là quá nhỏ bé trước sức mạnh của thiên nhiên, khúc đê yếu kém sao có thể chống chọi lại với thế nước. Nên Phạm Duy Tốn than rằng “Lo thay! Nguy thay!” thì người đọc cũng chỉ biết ngậm ngùi mà “thương thay”.

Đối lập gay gắt với bức tranh đời thứ nhất là bức tranh đời thứ hai được nhà văn miêu tả không kém phần chân thực và hấp dẫn. Trong khi muôn dân khốn khổ chìm trong nước, viên quan phụ mẫu cùng nha lại, chánh tổng - những kẻ có nhiệm vụ chỉ đạo dân hộ đê lại đang say đắm chìm trong cờ bạc. Bọn quan lại ấy được ngồi trong một cái đình vững chãi, “dẫu nước to thế nữa, cũng không việc gì”. Quang cảnh thật tĩnh mịch và nhàn nhã. Trong ánh sáng của đèn, sự hầu hạ của lính tráng nha lệ, mọi người ung dung ngồi đánh tổ tôm. Nổi bật trên nền bức tranh nguy nga tráng lệ ấy là một nhân vật cũng đường bệ, uy nghi không kém quan phụ mẫu. Quan ngài thật là biết hưởng thụ, “Tay trái dựa gối xếp, chân phải duỗi thẳng ra, để cho tên người nhà quỳ ở dưới đất mà gãi”. Ngài bồi dưỡng cho việc bỏ sức lực ra đánh bài bằng “bát yến hấp đường phèn”, khói bay nghi ngút, bỏm bẻm “trầu vàng, cau đậu, rễ tía”. Đi chỉ đạo hộ đê mà ngài chẳng hề thay đổi, nào dao chuôi ngà, nào ống vôi chạm, ngoáy tai, ví thuốc, quản bút, tăm bông. Cách quan đánh tổ tôm, “lúc mau, lúc khoan, ung dung êm ái, khi cười, khi nói vui vẻ dịu dàng” thật xứng đáng với một vị phúc tinh. Mặc dù rất lo cho tình hình đê điều bên ngoài đình nhưng ai cũng cố làm vừa lòng quan, khúm núm sợ sệt, tìm mọi cách để quan được vui. “Gần đó có sự nguy hiểm to, sắp sinh ra một cảnh nghìn sầu muôn thảm” cũng chẳng làm suy chuyển lòng dam mê cờ bạc nơi quan. Khi một người nhà quê vào báo tin đê vỡ, tức là làm quan mất hứng, tức là làm gián đoạn ván bài sắp ù to của quan, người nhà quê ấy đã bị quát cho một trận và đuổi cổ ra ngoài: “Đê vỡ rồi, thời ông cách cổ chúng mày, thời ông bỏ tù chúng mày”. Bao nhiêu trách nhiệm là tại dân, là tội của dân hết. Quan còn phải chơi cho nốt ván bài đã. Phạm Duy Tốn viết “Trừ những kẻ lòng lang dạ thú, còn ai nghĩ đến, ai mà chẳng động tâm, thương xót đồng bào huyết mạch”, kẻ lòng lang dạ thú ấy đã được “Ừ! Thông tôm, chi chi nảy” ngay chính lúc đê vỡ. Trong niềm vui phi nhân tính, tên quan vô trách nhiệm sung sướng hả hê khi ù ván bài lớn giữa cảnh thảm sầu, khốn nạn của nhân dân. Người đọc bức bối căng thẳng, ngột ngạt và đỉnh điểm là sự căm ghét đến cực độ tên quan vô lại mất hết tính người. Càng xót thương cho người dân bị bỏ rơi, người đọc càng khinh bỉ tên quan phụ mẫu.

Sử dụng thành công nghệ thuật tương phản, Phạm Duy Tốn đã phản ánh một cách chân thực sự đối lập hoàn toàn giữa cuộc sống và sinh mạng của nhân dân với cuộc sống của bọn quan lại mà kẻ đứng đầu là tên quan phủ lòng lang dạ thú. Thông qua đó, nhà văn tố cáo thái độ vô trách nhiệm, vô lương tâm của bọn quan lại cầm quyền và gửi gắm niềm thương cảm của mình vào cuộc sông lầm than cơ cực của nhân dân. Phép tương phản góp phần tạo nên sức hấp dẫn của truyện bằng cách đẩy mâu thuẫn xung đột lên tới đỉnh điểm và khắc hoạ sinh động cá tính nhân vật.

Bài 2:
Tương phản là một thủ pháp nghệ thuật được sử dụng khá phổ biến trong sáng tác văn chương. Nó được thể hiện bằng việc tạo ra những hành động, những cảnh tượng, những tính chất trái ngược nhau. Từ đó mà làm nổi bật lên một ý tưởng hoặc toàn bộ nội dung tư tưởng chủ đạo của tác phẩm. Trong những truyện ngắn hay của nền văn học Việt Nam những năm đầu tiên thế kỷ thì có thể nói truyện ngắn “Sống chết mặc bay” của Phạm Duy Tốn là một sự vận dụng sáng tạo và sắc sảo thủ pháp nghệ thuật nêu trên.

Sống chết mặc bay là một bức tranh, tương phản giữa một bên là cảnh tượng nhân dân đang phải vật lộn vất vả, căng thẳng trước nguy cơ vỡ đê. Bên kia là cánh quan phủ cùng nha lại, chánh tổng đang lao vào một cuộc đánh tổ tôm, trong khi đáng lý ra họ phải là những ông quan phụ mẫu đứng mũi chịu sào. Câu chuyện bắt đầu vào lúc quá nửa đêm, khi ấy trời vẫn mưa tầm tã, nước sông dâng lên cao, khúc đê xem chừng núng thế không khéo thì vỡ mất. Ở trên đê, “dân phu kể hàng trăm nghìn con người, từ chiều đến giờ, hết sức giữ gìn”. Cảnh hộ đê nhốn nháo và căng thẳng: “Trống đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng người xao xác gọi nhau sang hộ, nhưng xem chừng ai ai cũng mệt lử cả rồi”. Vậy mà mưa cứ đổ, nước vẫn cứ cuồn cuộn bốc lên. Sức người dường như đã tỏ ra bất lực trước thiên nhiên.

Trong lúc “lũ con dân đang chân lấm tay bùn, trăm lo nghìn sợ, đem thân hèn yếu mà đối với sức mưa to gió lớn” thì các ngài quan phụ mẫu hộ đê thưa rằng “đang ở trong đình kia…”, đình ấy cũng ở trên đê, nhưng cao mà vững chãi, dẫu nước to thế nữa, cũng không việc gì. Phải chăng các ngài đang ngồi bàn kế sách. Không đâu, được thế thì mang cho dân quá. “Trên sập… có một người quan phụ mẫu, uy nghi chễm chện ngồi”. Thế nhưng không phải ngài đang chỉ đạo mà là ngài đang… đóng cái bàn tổ tôm. Ở cái chiếu bạc ấy, thêm nữa còn có đủ mặt các ông tai to mặt lớn: thầy đề, đội nhất, thông nhì, lại thêm quan chánh tổng sở tại cũng ngồi hầu bài nữa. Các vị “phụ mẫu” đều ngồi hết cả ở đây, thế thì ở ngoài kia lũ con cháu cứ tha hồ mà kêu mà khóc.

Chiếu bạc vững yên và nghiêm trang lắm. Ngoài đánh tổ tôm, các ngài còn hút sách ăn uống, hầu hạ và vân vân còn bao nhiêu thứ nữa. Trong khi đó ngoài kia mưa gió cứ ầm ầm, dân phu thì rối rít.

Phạm Duy Tốn hành văn rất tự nhiên. Ông cứ tả, vừa tả vừa chêm xen hai cảnh cứ như là những lời nhắc nhở rất nhỏ thôi. Ấy vậy mà, người đọc cứ thấy rạo rực cứ run lên vì lo cho tính mệnh của bao người đang ôm lấy thân đê và cũng vì thế mà càng căm ghét lũ quan tham vô trách nhiệm.

Thủ pháp nghệ thuật tương phản tiếp tục được phát huy và được tác giả đẩy lên đến cao trào khi con đê đã núng ào ào tan vỡ. Có người khẽ nói “Bẩm có khi đê vỡ!”. Thế nhưng ngài cau mặt gắt rằng: “mặc kệ!”. Quan đang cao hứng vì thế mà bọn quan chức hầu bài cũng cứ nín nhịn ngồi yên. Lát sau lại có người xồng xộc chạy vào “Bẩm… quan lớn… đê vỡ mất rồi!”. Thế nhưng, tiếp theo vẫn là những lời quát mắng kèm theo một khuôn mặt cáu bẳn tức giận đỏ đến tía tai. Những dòng văn của tác giả thật tài tình. Càng về cuối truyện mạch văn càng ngắn, càng nhanh, càng lo lắng và công lại càng vững chãi. Dân cứ thét cứ kêu, cứ lênh đênh trên mặt nước. Còn vị quan phụ mẫu thì đúng lúc con đê kia vỡ lại là lúc được mùa. Quan ù và ù to chưa từng thấy.

Bằng lời văn tả thực nhưng cũng vô cùng sinh động, bằng sự khéo léo trong việc đan xen kết hợp hai thủ pháp tăng cấp và tương phản, truyện ngắn đã lên án gay gắt thái độ vô trách nhiệm của bọn quan tham. Đồng thời, sống chết mặc bay cũng bày tỏ niềm cảm thương da diết trước nỗi đau của con người. Nhờ sự thành công ở cả hai mặt nội dung và nghệ thuật, Sống chết mặc bay xứng đáng là truyện có chất lượng đầu tiên của nền văn học hiện đại Việt Nam.

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây