Phân tích đoạn trích chị em Thúy Kiều trích Truyện Kiều của Nguyễn Du

Chủ nhật - 21/02/2021 09:43
Hướng dẫn lập dàn bài chi tiết và làm bài văn mẫu, đề bài: Phân tích đoạn trích chị em Thúy Kiều trích Truyện Kiều của Nguyễn Du

I. Dàn ý

A. Mở bài.
- Truyện Kiều kiệt tác của ngòi bút thiên tài Nguyễn Du.
- Nghệ thuật tả người trong truyện Kiều bộc lộ nhiều nét tinh hoa của thơ Nguyễn Du.
- Đoạn thơ miêu tả 2 chị em Thúy Kiều xưa nay đều coi là mẫu mực của bút pháp cổ điển.

B. Thân bài.
1. Vị trí của đoạn trích.
- Nằm ở phần đầu của tác phẩm truyện Kiều.
- Đoạn trích miêu tả bức chân dung của 2 chị em Thúy Kiều Thúy Vân. Qua đó dự báo số phận của từng nhân vật.
- Đoạn thơ là bức chân dung hoàn chỉnh, chặt chẽ, chứng tỏ bút pháp cổ điển điêu luyện:
4 câu đầu: vẻ đẹp chung của hai chị em Thúy Kiều.
16 câu tiếp theo: vẻ đẹp riêng của Thúy Vân và tài sắc Thúy Kiều
4 câu cuối: đức hạnh, phong thái của chị em Thúy Kiều.

 2. Phân tích bốn câu đầu
- Trong câu thơ dùng từ thuần Việt “đầu lòng...” nôm na mà kì diệu là tinh túy của tiếng mẹ đẻ.
- Nhưng từ Hán (tố nga...) làm câu thơ trở lên sang trọng.
Cả hai cách dùng từ làm toát lên tinh thần nhân văn của nhà thơ: yêu thương, quý trọng con người.
- Nhịp điệu cân đối, hài hòa 4/4, 3/3 (Thúy Kiều là chị, em là Thúy Vân - Mai cốt cách tuyết tinh thần) góp phần giới thiệu vẻ đẹp hai chị em Kiểu.
- Hình ảnh thơ được lựa chọn theo tinh thần ước lệ cổ điển “Mai cốt cách... mười phân vẹn mười”, hoa, tuyết ước lệ cho người phụ nữ đẹp.
+ “mai cốt cách” là cốt cách của mai: manh mai, sắc rực rỡ, hương quý phái.
+ “tuyết tinh thần” là có tinh thần của tuyết: trắng trong, tinh khiết, thanh sạch.
—> Hai vế đối nhau làm câu thơ trở nên tao nhã gợi cảm.
-> Âm điệu nhịp nhàng nhấn mạnh sự đối xứng làm nổi bật vẻ đẹp cân đối hoàn hảo.
Như vậy, cái tài của Nguyễn Du là ở chỗ miêu tả “mỗi người một vẻ …” - nhân vật trong tác phẩm cũng như ngoài đời không ai giống ai, này tạo nên những nét diện mạo, tính cách riêng của từng nhân vật để làm nổi bật được vẻ đẹp riêng của từng người, ngòi bút của Nguyễn Du đã bộc lộ được tất cả sự tài hoa của nghệ thuật tả người mà đây là một đoạn thể hiện sự điêu luyện của nghệ thuật ấy.

3. Phân tích mười sáu câu tiếp theo
Đây là đoạn miêu tả vẻ đẹp của Thúy Vân và tài sắc của Thúy Kiều.
4 câu tả Thúy Vân
- Họa sĩ phác họa:
- Khuôn mặt đầy đặn, cân đối phúc hậu, suối tóc óng như mây, nụ cười, giọng nói đoan trang, làn da sáng hơn tuyết.
Tác giả miêu tả Thúy Vân toàn vẹn, tinh tế từ khuôn mặt, nét mày, điệu cười giọng nói đến mái tóc, làn da.
+ Dùng từ “xem” khéo léo giới thiệu trước một cách tế nhị thể hiện sự đánh giá chú quan của người miêu tả —> sắc đẹp của Thúy Vân là sắc đẹp tương đối.
- Miêu tả Thúy Vân bằng những nét ước lệ cho thấy sự tươi thắm, đoan trang mà hiền dịu, phúc hậu:
- Dùng hình ảnh ẩn dụ “khuôn trăng đầy đặn”, tiếp sau là hình ảnh nhân hóa “hoa cười, ngọc thốt” (thay vào cách nói so sánh “Vân cười tươi như hoa, nói trong như ngọc”).
- Nguyễn Du vừa miêu tả nhan sắc đã cho thấy ngay số phận nhân vật: “thua...; tuyết nhường...” cho thấy tạo hóa “thua”“nhường” nên người đẹp này sinh ra là để được hưởng hạnh phúc.
* 12 câu tả Thúy Kiều
- Số lượng câu chứng tỏ Nguyễn Du dùng hết bút lực và lòng yêu mến vào nhân vật này.
- Lấy Vân làm nền để làm nổi bật Kiều, Vân xinh đẹp là thế nhưng Kiều còn đẹp hơn.
- Nếu Thúy Vân đẹp tươi thắm, hiền hậu thì Thúy Kiều lại đẹp sắc sảo “nghiêng nước, nghiêng thành”.
- Vẻ đẹp mặn mà là vẻ đẹp chung của hai chị em, nhưng nét sắc sảo là của riêng Kiều: “Kiều càng...”. Kiều đẹp có một không hai.
- Phân tích: bằng ước lệ, tác giả điểm xuyết một đôi nét dung nhan khiến Thúy Kiều hiện lên rạng rỡ:
+ “làn thu thúy”: đôi mắt trong xanh như nước mùa thu gợi cảm mà huyền ảo.
+ “nét xuân sơn”: nét mày thanh thản tươi xanh mơn mởn đẹp như dáng núi mùa xuân.
Bình: không miêu tả nhiều nhưng tất cả đều hoàn mĩ, tập trung tả nét chân dung tiêu biểu của một con người, là “gương” soi, là “cửa số tâm hồn”. Đôi mắt, không chỉ mang vẻ đẹp bên ngoài mà ẩn chứa thế giới tâm hồn bên trong. Cách tả truyền thống: nét đậm nét nhạt, có chỗ tỉ mỉ, có chỗ chấm phá.
- Phân tích: phép tu từ nhân hóa, chọn lọc từ ngữ thể hiện thái độ của thiên nhiên với Kiều. Với vẻ đẹp của Vân thiên nhiên chẳng đố kị mà chịu thua, chịu nhường, còn với vẻ đẹp của Kiều thì “hoa ghen”, “liễu hờn”.
- Tả vẻ đẹp lấy từ điển cố “nhất cố khuynh thành, tái cố khuynh quốc” (một lần quay lại tướng giữ thành mất thành, quay lại lần nữa nhà vua mất nước) tạo sự súc tích, có sức gợi lớn cho thấy vẻ đẹp có sức hút mạnh mẽ.
Tóm lại, vẻ đẹp của Kiều gây ấn tượng mạnh, đó là một trang tuyệt sắc.
- Không chỉ là giai nhân tuyệt thế mà Kiều còn rất đa tài. Tác giả sử dụng hơn 6 dòng thơ để giới thiệu tài năng cua nàng:
+ Tư chất thông minh, làm thơ, vẽ tranh, ca xướng, đánh đàn đều đến siêu luyện.
+ Tài đánh đàn: thể hiện qua từ ngữ “làu”, “ăn đứt”, những từ ngữ biểu thị giá trị tuyệt đối, thể hiện tình cảm yêu mến, trân trọng của mình đối với nhân vật Thúy Kiều.
+ Soạn nhạc: Soạn khúc “bạc mệnh oán”: khúc nhạc dự đoán cho số phận đau khổ, bất hạnh của Kiều sau này.
- So với đoạn tả Thúy Vân, chức năng dự báo còn phong phú hơn.
- Những câu thơ miêu tả nhan sắc, tài năng cho thấy sự dự đoán số phận thể hiện quan niệm “thiên mệnh” của nho gia, thuyết “tài mệnh tương đô” của Nguyễn Du.
(Đầu tác phẩm Nguyễn Du viết: Trời xanh quen thói má hồng đánh ghen, cuối tác phẩm ông lại viết: Chữ tài đi với chữ tai một vần).
Nhu vậy, Kiều đẹp quá, tài hoa quá, hoàn hào quá nên không thể tránh khỏi sự “hồng nhan bạc mệnh”.
- Nét tài hoa của Nguyễn Du bộc lộ rõ nét trong nghệ thuật tả người ở đoạn thơ.
- Bút pháp nghệ thuật có tính truyền thống của thơ văn cổ nhưng ông đã vượt lên được cái giới hạn đó. 16 câu tả vẻ đẹp của hai chị em Kiều gần như đầy đủ vẻ đẹp của người phụ nữ theo quan niệm xưa: công - dung - ngôn - hạnh. Tài ấy thể hiện cả ở tả tình, tâm hồn của nhân vật và dự báo số phận nhân vật.
* Đức hạnh và phong thái của hai chị em Kiều
- Cuộc sống “êm đềm”, “phong lưu” khuôn phép, đức hạnh mẫu mực.
- Tác dụng đoạn cuối: khép lại bức chân dung của hai chị em Thúy Kiều đồng thời khép lại toàn đoạn trích khiến nó thêm chặt chẽ với tác phẩm, với số phận từng nhân vật.
- Cách miêu tả đã giới thiệu chính xác số phận từng nhân vật.

4. Nhận xét
- Nguyễn Du đã giới thiệu tài sắc hai chị em Thúy Kiều một cách tài tình. Thúy Kiều và Thúy Vân đều là tuyệt thế giai nhân: trẻ, ngây thơ, trong trắng, mỗi người một vẻ hấp dẫn lạ lùng (Vân đẹp đoan trang, trang trọng; Kiều đẹp sắc sảo, mặn mà), vẻ đẹp của Vân là vẻ đẹp chinh phục thiên nhiên còn vẻ đẹp của Kiều là vẻ đẹp khiến thiên nhiên phải ghen hờn.
- Nghệ thuật:
+ Cách miêu tả và khắc họa tính cách nhân vật của Nguyễn Du rất tinh tế (miêu tả hai vẻ đẹp khác nhau và cho thấy rõ sự khác biệt).
+ Dùng thủ pháp cổ điển miêu tả ước lệ tượng trưng (mai, khuôn trăng, ngọc thốt, tuyết, hoa cười).
+ Sử dụng điển cố nhưng mức độ cho từng nhân vật khác nhau, các chi tiết khác nhau.
+ Sử dụng miêu tả khái quát cũng biến hóa, uyển chuyển tạo hứng thú với chân dung từng nhân vật.
+ Nghệ thuật sử dụng ngôn từ độc đáo, đặc biệt là những từ có giá trị gợi tả cao.

III. Kết bài
Đoạn trích là trác tuyệt trong Truyện Kiều. Cái tài của Nguyễn Du thật đáng kính, trên đó là cái tình đáng trọng hơn.
Mỗi chữ mỗi lời trong đoạn thơ đều ẩn chứa, niềm thương yêu, quý trọng con người. Tinh thần nhân văn cao quý khiến Truyện Kiều trở nên bất tử.


II. Bài làm 1

Nguyễn Du (1765 – 1820) quê ở Tiên Điền – Nghi Xuân – Hà Tĩnh, là đại thi hào của dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới. Một trong những tác phẩm thành công về chữ Nôm của ông là  “Đoạn trường tân thanh” hay còn gọi là “Truyện Kiều”. Truyện không những có nội dung sâu sắc mà còn rất thành công về nghệ thuật. Tiêu biểu cho nghệ thuật khắc họa nhân vật là đoạn trích ” chị em Thúy Kiều”. Đoạn trích đã đề cao trân trọng vẻ đẹp của con người đặc biệt là người phụ nữ thông qua việc miêu tả tài và sắc của chị em Thúy Kiều. Đây là đoạn trích thể hiện sâu sắc cảm hứng nhân vật của Nguyễn Du.

Bốn dòng thơ đầu tác giả giới thiệu chung về vị thứ và vẻ đẹp của chị em Thúy Kiều:

“Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười”

Bằng cách giới thiệu hai “ả tố nga” vừa ngắn gọn vừa giản dị hết sức ấn tượng đầy đủ. Trong gia đình họ Vương có hai cô con gái đầu lòng đẹp như “Hằng Nga”. Và câu thơ “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”, bằng việc sử dụng bút phát ước lệ tượng trưng thông qua hai hình ảnh  “mai”, “tuyết”, tác giả gợi lên trước mắt chúng ta vẻ đẹp của hai thiếu nữ với dáng người mảnh dẻ, duyên dáng như cây mai một loài hoa đẹp và cao quý, tâm hồn của họ trong trắng như tuyết, cả hai đều đẹp hoàn thiện, hoàn mỹ “mười phân vẹn mười”, mỗi người mang một nét đẹp riêng “Mỗi người mỗi vẻ”, đúng là cách nhìn đầy ngợi ca trân trọng của tác giả.

Đến với bốn câu thơ tiếp theo, tác giả gợi về vẻ đẹp của Thúy Vân.
“Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười , ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da”

Câu thơ đầu “Vân xem trang trọng khác vời” đã khái quát đặc điểm của nhân vật. Hai chữ “trang trọng” gợi vẻ đẹp cao sang, quý phái của Thúy Vân, có thể nói có bao nhiêu cái đẹp của tạo vật, thiên nhiên đều được Nguyễn Du mượn để tạo nên chân dung của Thúy Vân. Đó là trăng, hoa, tuyết, ngọc, mây, bằng bút pháp ước lệ, thư phát liệt kê, vẻ đẹp của Vân được tác giả cụ thể hóa bằng khuôn mặt, đôi mày, mái tóc, làn da, nụ cười, giọng nói. Cụ thể trong việc sử dụng từ ngữ làm nổi bật vẻ đẹp của đối tượng được miêu tả : “đầy đặn”, “nở nang”, ” đoan trang”. Những biện pháp tu từ ẩn dụ, so sánh, nhân hóa đều nhằm thể hiện vẻ đẹp phúc hậu mà quý phái của người thiếu nữ. Một Thúy Vân với gương mặt đầy đặn dịu nhẹ như trăng rằm, lông mày sắc nét đậm như con ngài, miệng cười tươi thắm như hoa, giọng nói trong như ngọc, mái tóc mềm mượt  hơn mây, làn da trắng hơn tuyết. Vẻ đẹp ấy làm cho thiên nhiên ngưỡng mộ “mây thua”, “tuyết nhường”. Hai chữ “thua”, ” nhường” biểu hiện sự hài lòng không ghen ghét, điều này dự báo nàng sẽ có một cuộc sống bình lặng, xuôn xẻ không gặp sóng gió.

Nếu tả Thúy Vân với bốn câu thơ thì sang Thúy Kiều Nguyễn Du dành cho nàng mười hai câu thơ. Nếu Vân được miêu tả với vẻ đẹp hoàn hảo thì Thúy Kiều còn vượt lên trên cái hoàn hảo đó, nếu Vân Nguyễn Du chỉ nói đến sắc thì Kiều còn đẹp cả sắc lẫn tài, đó là vẻ đẹp của tuyệt thế giai nhân sắc sảo mặn mà.

“ Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn”.

Ở đây, Nguyễn Du rất thành công trong việc sử dụng nghệ thuật đòn bẩy:  Miêu tả Vân trước để làm nền cho vẻ đẹp của Kiều. Chỉ bằng một câu thơ với các từ “càng” , “hơn” tác giả giúp người đọc hình dung rõ vẻ đẹp vượt trội của Kiều. Nàng không những tuyệt đỉnh về nhan sắc mà còn sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn.

“Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”.

Khi miêu tả Thúy Kiều, tác giả vẫn sử dụng bút pháp ước lệ thông qua các hình tượng thiên nhiên “thu thủy”, “xuân sơn”, “hoa ghen”, “liễu hờn”. Chỉ có điều Nguyễn Du không liệt kê nhiều chi tiết như Vân mà chỉ tập trung ở đôi mắt. Hình ảnh ước lệ “thu thủy” gợi tả đôi mắt Kiều đẹp trong như nước mùa thu, “xuân sơn” gợi lên đôi lông mày thanh tú trên khuôn mặt trẻ trung, đôi mắt ấy của Kiều chính là cửa sổ tâm hồn, thể hiện sự sắc sảo về trí tuệ, mặn mà về tâm hồn. Sắc của Kiều làm cho người ta ngưỡng mộ say mê đến lỗi có thể “mất nước, mất thành”, con thiên nhiên thì ganh ghét, đố kỵ “hoa ghen”, “liễu hờn”.

Sắc đã vậy còn tài, tình của Kiều thì sao? Miêu tả Kiều tác giả dành một phần để nói về nhan sắc, còn dành đến hai phần để nói về tài năng. Đây chính là dụng ý nghệ thuật của Nguyễn Du. Ông muốn nhấn mạnh sắc đẹp của Kiều thì không có bút pháp nào tả nổi. Về sắc đẹp của Kiều là số một còn về tài thì trong thiên hạ may ra có người thứ hai:

“Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai”

Kiều thông minh bẩm sinh, cái tài do trời phú. Tài năng của nàng đạt tới mức hoàn thiện theo quan niệm thẩm mỹ gồm cả” cầm, kỳ, thi. họa”

“Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm,
Nghề riêng ăn đứt Hồ cầm một trương.”

Đặc biệt tài đàn của nàng là nổi trội hơn cả – là sở trường, tiếng đàn của nàng thật hay, hay đến mức có thể ăn đứt bất cứ nghệ sĩ tài ba nào trong thiên hạ. Kiều không chỉ giỏi đánh đàn mà còn giỏi sáng tác nhạc, đến mức có thể soạn cho mình một bản nhạc về  nhan đề “bạc mệnh” . Mỗi khi nàng gảy bản đàn đó đều khiến cho lòng người âu sầu, ảo lão người nghe chau mày rơi lệ. Cung đàn “bạc mệnh” chính là sự ghi lại tiếng lòng của một trái tim đa sầu, đa cảm.

Như vậy vẻ đẹp của Kiều là sự kết hợp cả sắc, tài và tình, một vẻ đẹp vượt qua ngoài khuôn khổ khiến cho tạo hóa ghen ghét đố kỵ.

“Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”

Từ việc khắc họa bức chân dung Thúy Kiều tác giả dự báo về số phận éo le, đau khổ, một tương lai chìm nổi sẽ đến với  nàng.

Mặc dù tài sắc của Thúy Kiều, Thúy Vân khác nhau dự báo về tương lai cuộc sống khác nhau, nhưng đức hạnh của hai nàng đều đáng trân trọng, điều này thể hiện qua bốn câu thơ cuối:

“Phong lưu rất mực hồng quần,
Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai”

 Mặc dù đã đến tuổi cập kê nhưng “hai ả tố nga” đã và đang sống cuộc đời nề nếp, gia giáo, cuộc sống của các thiếu nữ phong khuê không hề có tình yêu thiếu đúng đắn.

Như vậy với hai tư câu thơ trong đoạn trích “chị em Thúy Kiều” là một trong những đoạn thơ mẫu mực về nghệ thuật tả người. Bằng bút pháp ước lệ tượng trưng, thủ pháp đòn bẩy, các biện pháp tu từ so sánh, nhân hóa, ẩn dụ. Tác giả đã khắc họa chân dung hai người thiếu nữ với tất cả sắc, tài, tình, mệnh. Đằng sau bức chân dung chị em Thúy Kiều là tấm lòng ngợi ca trân trọng của tác giả – đó là một biểu hiện của tinh thần nhân văn trong Truyện Kiều, qua đây ta hiểu trân trọng thêm vẻ đẹp của con người đặc biệt là người phụ nữ.

Bài làm 2:

Nguyễn Du là đại thi hào của dân tộc ta. Tên tuổi của ông gắn liền với tác phẩm “Truyện Kiều” – kiệt tác số một của văn học trung đại Việt Nam. Có lẽ đoạn thơ “Chị em Thuý Kiều” trích trong tác phẩm là những vần thơ tuyệt bút. Chỉ bằng 24 câu thơ lục bát, Nguyễn Du đã miêu tả cả tài, sắc và đức hạnh của hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều với tất cả lòng quý mến, trân trọng của nhà thơ.

Đoạn trích “Chị em Thuý Kiều” nằm trong phần: “Gặp gỡ và đính ước”, sau phần giới thiệu gia cảnh gia đình Thuý Kiều. Với nhiệt tình trân trọng ngợi ca, Nguyễn Du đã sử dụng bút pháp nghệ thuật ước lệ cổ điển, lấy những hình ảnh thiên nhiên để gợi, tả, khắc hoạ vẻ đẹp chị em Thuý Kiều thành những tuyệt sắc giai nhân.

Trước hết, Nguyễn Du cho ta thấy vẻ đẹp bao quát của hai chị em Thuý Kiều trong bốn câu đầu:

Đầu lòng hai ả tố nga,
Thuý Kiều là chị, em là Thuý Vân.
Mai cốt cách, tuyết tinh thần,
Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười.

Nhà thơ dùng từ Hán Việt “tố nga” chỉ những người con gái đẹp tinh tế để gọi chung hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều. Hai chị em được ví von có cốt cách thanh cao như hoa mai, có tâm hồn trong sáng như tuyết trắng. Mỗi người có vẻ đẹp riêng và đều đẹp một cách toàn diện. Từ cái nhìn bao quát ấy, nhà thơ đi miêu tả từng người. Bằng nghệ thuật ước lệ tượng trưng, liệt kê, nhân hoá, tác giả miêu tả vẻ đẹp của Thuý Vân là vẻ đẹp trang trọng, quý phái, phúc hậu:

Vân xem trang trọng khác vời,
Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang
Hoa cười , ngọc thốt đoan trang,
Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da.

Vẻ đẹp của Thuý Vân có sự hoà hợp với tự nhiên, như ngầm dự báo trước tương lai êm ấm, bình lặng trong cuộc đời nàng.

Tác giả dùng thủ pháp đòn bẩy, tả khách hình chủ, tả Thuý Vân trước rồi mới tả Thuý Kiều. Vân đã đẹp, Kiều càng muôn phần đẹp hơn. Thuý Kiều lại có nhan sắc “sắc sảo mặn mà”. Kiều “sắc sảo” về trí tuệ, “mặn mà” về tâm hồn. Đặc biệt, vẻ đẹp ấy thể hiện qua đôi mắt “làn thu thuỷ nét xuân sơn”. Đôi mắt chính là cửa sổ tâm hồn, đôi mắt Kiều trong sáng, long lanh như làn nước mùa thu, đôi lông mày thanh tú như nét núi mùa xuân. Nếu vẻ đẹp của Thuý Vân được thiên nhiên tạo hoá sẵn sàng nhường nhịn thì với Thuý Kiều, vẻ đẹp ấy lấn át cả thiên nhiên, khiến cho thiên nhiên ấy phải đố kị, ghen ghét:

“ Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn,
Làn thu thuỷ, nét xuân sơn,
Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh”

Nếu như nhan sắc của Thuý Kiều khiến cho nghiêng thành đổ nước, không ai sánh bằng thì tài năng của nàng may ra mới có người thứ hai.

“Sắc đành đòi một, tài đành hoạ hai,
Thông minh vốn sẵn tính trời,
Pha nghề thi hoạ, đủ mùi ca ngâm”

Thuý Kiều thông minh do thiên bẩm nên tất cả những môn nghệ thuật: thi hoạ, ca ngâm, nàng đều rất điêu luyện, đặc biệt là tài gảy đàn: “Cung thương làu bậc ngũ âm”. Nàng không chỉ giỏi về âm luật mà còn biết sáng tác. Khúc nhạc “Bạc mệnh” mà nàng sáng tác làm cho người nghe phải rơi lệ.

Như vậy, vẻ đẹp của Thuý Kiều là sự kết hợp giữa sắc-tài-tình. Chính vẻ đẹp ấy cũng ngầm dự báo một số phận không êm đềm, bình lặng như Thuý Vân, mà đầy trắc trở, éo le.

Những câu thơ cuối khái quát về cuộc sống đức hạnh của chị em Thuý Kiều:
“Êm đềm trướng rủ màn che,
Tường đông ong bướm đi về mặc ai”

Hai chị em sống trong môi trường gia giáo, nề nếp, tránh xa những chuyện thị phi ong bướm ngoài đời.

Đoạn thơ “Chị em Thuý Kiều” đã tái dựng tài tình chân dung hai trang tuyệt sắc giai nhân Thuý Vân, Thuý Kiều bằng nhiều biện pháp ẩn dụ, tượng trưng, hình ảnh ước lệ, từ ngữ trong sáng, giàu sức gợi. Qua chân dung hai chị em Thuý Vân, Thuý Kiều, nhà thơ Nguyễn Du đã bộc lộ thái độ trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp người phụ nữ. Đó chính là một trong những biểu hiện rõ nét của tư tưởng nhân đạo Nguyễn Du trong “Truyện Kiều”.

 

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

THÀNH VIÊN

Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây