Đề thi học kỳ 2 môn Lịch sử lớp 7 năm 2020 - 2021 (Đề 4)

Thứ bảy - 01/05/2021 05:21

Đề thi học kỳ 2 môn Lịch sử lớp 7 năm 2020 - 2021, có đáp án kèm theo. Mời các bạn cùng tham khảo.

 

I. TRẮC NGHIỆM : (4 ĐIỂM)

Câu 1: Sau khi kháng chiến chống quân Minh thắng lợi, Lê Lợi lên ngôi vua vào năm nào, đặt tên nước là gì?
A. Lên ngôi năm 1428 - tên nước là Đại Việt.
B. Lên ngôi năm 1428 - tên nước là Đại Nam.
C. Lên ngôi năm 1427 - tên nước là Việt Nam.
D. Lên ngôi năm 1427 - tên nước là Nam Việt.

Câu 2: Bộ “Quốc triều hình luật” hay còn gọi là “Luật Hồng Đức” được biên soạn và ban hành dưới thời vua nào?
A. Lê Thái Tổ.
B. Lê Nhân Tông.
C. Lê Thánh Tông.
D. Lê Thái Tông.

Câu 3: Vào thế kỉ XVI – XVII, Nho giáo ở nước ta như thế nào?
A. Được xem như quốc giáo.
B. Được nhà nước phong kiến đề cao trong học tập, thi cử và tuyển lựa quan lại.
C. Không hề được quan tâm.
D. Đã bị xóa bỏ hoàn toàn.

Câu 4: Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Quang Trung vào năm nào?
A. Năm 1778.                                                               
B. Năm 1788.                                                               
C. Năm 1789.
D. Năm 1790.

Câu 5: Tướng nào của giặc phải khiếp sợ, thắt cổ tự tử sau khi thất bại ở Ngọc Hồi và Đống Đa?
A. Sầm Nghi Đống..
B. Hứa Thế Hanh.
C. Tôn Sĩ Nghị.
D. Càn Long.

Câu 6: Nguyên nhân chủ yếu nào làm cho nhà Tây Sơn thất bại trước cuộc tấn công của Nguyễn Ánh?
A. Quân của Nguyễn Ánh rất mạnh.
B. Nguyễn Ánh được sự giúp đỡ của quân Xiêm.
C. Quang Trung mất, Quang Toản nối ngôi, nhưng không đủ năng lực.
D. Nội bộ Tây Sơn chia rẽ, mâu thuẫn ngày càng gay gắt.

Câu 7: Nguyễn Ánh lập ra triều Nguyễn từ năm nào và lấy niên hiệu là gì?
A. Năm 1803. Niên hiệu là Minh Mạng.
B. Năm 1802. Niên hiệu là Gia Long.
C. Năm 1804. Niên hiệu là Thiệu Trị.
D. Năm 1805. Niên hiệu là Tự Đức.
            
Câu 8: Những năm 1831 – 1832, nhà Nguyễn chia nước ra bao nhiêu tỉnh?
A. 10 tỉnh và 1 phủ trực thuộc.
B. 20 tỉnh và 1 phủ trực thuộc.
C. 30 tỉnh và 1 phủ trực thuộc.
D. 40 tỉnh và 1 phủ trực thuộc.
 

II. TỰ LUẬN: (6 ĐIỂM)

Câu 1 (2 điểm): Em có nhận xét gì về tình hình giáo dục, thi cử thời Lê sơ?
Câu 2 (2,5 điểm): Em hãy cho biết ai là người có đóng góp quan trọng trong sự ra đời của chữ Quốc ngữ? Vì sao chữ Quốc ngữ ra đời và trở thành chữ viết chính thức của dân tộc ta?
Câu 3 (1,5 điểm): Em hãy cho biết chính sách ngoại thương của nhà Nguyễn đối với  những nước phương Tây được thể hiện như thế nào?

 

ĐÁP ÁN

I. TRẮC NGHIỆM: (4 điểm)

Mỗi câu đúng, HS được 0.5 điểm
Câu 1 2 3 4 5 6 7 8
Đáp án A C B C A D B C
 

II. TỰ LUẬN:  ( 6 điểm)

Câu Nội dung Điểm




1
Nhận xét tình hình giáo dục, thi cử thời Lê sơ:
- Nhà nước quan tâm đến giáo dục, đến việc đào tạo nhân tài
- Nhà nước lấy giáo dục, khoa cử làm phương thức chủ yếu tuyển dụng quan lại
- Nhà nước có nhiều hình thức khuyến khích, động viên mọi người học tập, thi cử như: ai học đều được thi, lập bia, khắc tên những người đỗ tiến sĩ vào bia đá, những người đỗ cao đều được tuyển dụng vào làm quan.
→ Nhờ có những chính sách trên mà tình hình giáo dục, thi cử thời Lê sơ phát triển mạnh mẽ hơn so với các thời kì Lê sơ phát triển mạnh hơn so với các thời kì trước đó

0,5
0,5
0,5
0,5






2

 
Người có đóng góp quan trọng trong sự ra đời của chữ Quốc ngữ:
- Giáo sĩ A-lếc-xăng- đơ Rốt
Hoàn cảnh ra đời của chữ Quốc ngữ:
 - Đến thế kỉ XVII, tiếng Việt đã trở lên phong phú và trong sáng. Một số giáo sĩ phương Tây học Tiếng Việt để truyền đạo Thiên Chúa. Họ dùng chữ cái La- tinh để ghi âm Tiếng Việt.
- Trải qua một quá trình lâu dài , với sự kết hợp của các giáo sĩ phương Tây và người Việt Nam, năm 1651 giáo sĩ A-lếc-xăng- đơ -Rốt đã cho xuất bản cuốn Từ điển Việt - Bồ- Latinh.→ Chữ Quốc ngữ ra đời
Chữ cái La- tinh ghi âm Tiếng Việt trở thành chữ Quốc ngữ của nước ta cho đến ngày nay vì:
- Đây là thứ chữ viết tiện lợi, khoa học, dễ phổ biến và là công cụ thông tin rất thuận tiện.
- Chữ Quốc ngữ có vai trò quan trọng góp phần đắc lực vào việc truyền bá khoa học, phát triển văn hóa trong các thế kỉ sau, đặc biệt trong văn học viết.


0,5
0,5
0,5


0,5
0,5


3
 
Chính sách ngoại thương của nhà Nguyễn với các nước phương Tây được thể hiện:
- Nhà Nguyễn thu hẹp dần các hoạt động của thương nhân phương Tây mặc dù họ vẫn đến buôn bán ở các hải cảng, nhưng nhà Nguyễn không cho người phương Tây mở cửa hàng. Họ chỉ được ra vào một số cảng quy định.
- Về sau, Nhà Nguyễn đã thực hiện chính sách “bế quan tỏa cảng”

1

0,5

​​​​​​​
 

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây