Dàn bài và bài văn mẫu: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

Thứ hai - 30/11/2020 08:57

Hướng dẫn lập dàn bài chi tiết và làm bài văn mẫu, đề bài: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ.

I. Dàn ý

1. Mở bài
Đọc “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ có lẽ ai trong chúng ta đều cảm thông với nỗi oan khuất cũng như cảm động trước những phẩm chất tốt đẹp của nhân vật Vũ Nương – nhân vật chính trong truyện, đại diện cho những người phụ nữ trong xã hội phong kiến.

2. Thân bài:
Chủ đề chính của truyện ca ngợi vẻ đẹp đức hạnh, lòng vị tha, thể hiện số phận bi kịch của người phụ nữ xưa trong xã hội loạn lạc, đồng thời thể hiện khát vọng vĩnh hằng của con người: cái thiện phải thắng cái ác. Nhân vật chính trong truyện là Vũ Nương – một người phụ nữ có phẩm chất tốt đẹp, đáng trân trọng nhưng cuộc đời lại chịu nhiều oan khuất, thiệt thòi.

a. Các phẩm chất tốt đẹp của nhân vật Vũ Nương:
– Vũ Nương là người phụ nữ khát khao có một mái ấm gia đình hạnh phúc:
+ Khi xây dựng gia đình, gắn kết cuộc đời với Trương Sinh, biết chồng có tính đa nghi, nàng luôn phải “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải thất hòa” -> khao khát và luôn ý thức xây dựng vun vén cho gia đình, giữ gìn hạnh phúc trọn vẹn -> đó cũng là ước mơ chung của bất kì người phụ nữ nào.
+ Rồi khi chồng nàng phải đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy với lời tiễn biệt đầy cảm động: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang được hai chữ bình yên” -> ước mong đó thật giản dị nhưng ẩn chứa sau đó là niềm khát khao và ý thức trân trọng giừ gìn mái ấm hạnh phúc gia đình mà nàng đang có. Mặt khác, nó cũng khẳng định được lòng thủy chung yêu thương và lo lắng cho chồng của Vũ Nương.
– Vũ Nương cũng là người vợ thủy chung, người con dấu hiếu thảo, người mẹ đảm đang:
+ Những tháng ngày Trương Sinh đi lính, nàng luôn mong nhớ đợi chờ: “Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được” -> Phép ẩn dụ tượng trưng đã diễn tả đầy đủ được nỗi nhớ mong tháng ngày như biển trời cũng như đức hi sinh và tinh thần chịu đựng của người chinh phụ.
+ Ở nhà Vũ Nương một mình vượt cạn, sinh bé Đản, vừa thực hiện thiên chức của người mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng con nhỏ, lại vừa thay chồng thực hiện chức trách của người cha dạy dỗ bé Đản.
+ Khi mẹ chồng ốm, mất: “Lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn, thuốc thang, lễ bái thần phật”“phàm việc ma chay tế lễ như đối với cha mẹ đẻ mình”.
Với những phẩm hạnh tốt đẹp tấm lòng hiếu nghĩa như vậy lẽ ra Vũ Nương phải được hưởng hạnh phúc xứng đáng.

a. Nỗi oan khuất của Vũ Nương:
– Khi Trương Sinh trở về tưởng chừng như hạnh phúc sẽ mỉm cười với Vũ Nương nhưng đó lại là khi những oan khuất đổ ập xuống cuộc đời và số phận nàng. Dù vậy, trong nỗi oan khuất tày trời thế nhưng phẩm chất tốt đẹp của nàng càng có cơ hội tỏa sáng, đặc biệt là tấm lòng trinh bạch.
+ Thấy hạnh phúc đang có nguy cơ đứng trước bờ vực thẳm, nàng cố phân trần, níu giữ trước thái độ độc đoán, gia trưởng, nhất quyết đuổi đi của Trương Sinh: “Cách biệt ba năm gìn giữ một tiết, tô son điểm phấn đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự hư thân mất nết như lời chàng nói. Dám xin bày tỏ để cởi mối nghi ngờ. Mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”.
+ Không thể tự minh oan cho mình được, nàng giãi bày: “Thiếp nếu đoan trang giữu tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ, và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ”.
Tất cả những lời bộc bạch ấy đã góp phần chứng minh cho những phẩm hạnh tốt đẹp và tấm lòng trinh bạch, thủy chung của Vũ Nương.
– Dù sống dưới thủy cung (ở một thế giới khác) nhưng nàng vẫn luôn hướng về chồng con. Điều này được thể hiện rõ trong câu chuyện giữa nàng và Phan Lang: “Vả chăng, ngưa Hồ gầm gió Bắc, chim Việt đậu cành nam. Cảm vì nỗi ấy, tôi tất phải tìm về có ngày” -> Đó là tấm lòng nhân nghĩa, vị tha, nhân hậu và rất cao thượng của nàng ngay cả đối với Trương Sinh – kẻ đã phụ bạc và ruồng rẫy nàng, vứt bỏ nàng không mảy may thương tiếc. Phẩm chất đáng quý đó đại diện cho biết bao người phụ nữ Việt Nam từ xưa tới nay.
– Chi tiết cuối truyện, Vũ Nương hiện về với câu nói: “Thiếp ơn đức Linh Phi, đa tạ tình chàng,… không thể về nhân gian được nữa” có ý nghĩa khắc sâu phẩm chất nhân hậu, rộng lượng của người phụ nữ Việt Nam: sống nội tâm, có trước, có sau.
– Câu chuyện là lời tố cáo đanh thép chế độ phong kiến đã chà đạp lên quyền sống con người. Hiện thân của chế độ ấy là nhân vật Trương Sinh.
Liên hệ thực tế: Hiện nay, chúng ta đang phấn đấu xây dựng một xã hội bình đẳng, ở đó người phụ nữ được trân trọng và bảo vệ…

3. Kết bài:
Câu chuyện của Vũ Nương từ thế kỉ XVI nhưng để lại bài học thấm thía cho đến tận ngày hôm nay.
 

II. Bài văn mẫu:

Bài 1: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

Trong văn hoc Việt Nam đã có không ít tác phẩm mang tên gọi truyền kì hoặc có tính chất truyền kỳ song được tôn vinh là thiên cổ kì bút thì cho đến nay chi có một Truyền kì mạn lục của tác giả Nguyễn Dữ. Không chỉ vì tác giả Truyền kì mạn lục đã phát huy công năng của thể loại một cách thần tình; mà có lẽ quan trọng hơn: bút lực của ông rất già dặn, vừa thông minh, tài hoa lại vừa giàu tính nhân đạo.

Chuyện người con gái Nam Xương được rút trong tập những câu chuyện kỳ lạ đó. Toàn bộ câu chuyện xoay quanh cuộc đời và số phận bi thảm của người con gái xinh đẹp, nết na tên là Vũ Thị Thiết quê ở Nam Xương. Nguyễn Dữ không chú trọng việc miêu tả hình thức, chúng ta chỉ biết Vũ Xương là người tính đã thùy mị nết na lại thêm có tư dung tốt đẹp. Tính cách nhân vật được thể hiện qua hai mối quan hệ cơ bản là quan hệ với chồng và mẹ chồng. Mối quan hệ đó diễn ra ở những thời điểm khác nhau, ở từng thời điểm, nhân vật bộc lộ cá tính của mình một cách cụ thể. Mối quan hệ với Trương Sinh diễn ra qua bốn thời điểm: khi chồng ở nhà, khi chia tay chồng đi lính, khi xa chồng và khi chồng trở về. Trong những ngày chung sống với nhau, biết Trương Sinh là người có tính đa nghi, đối với vợ phòng ngừa quá sức nên Vũ Nương luôn giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa. Khi tiễn chồng đi lính, tính cách của Vũ Nương được thể hiện ở lời đưa tiễn. Nàng nói với chồng: Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi. Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín đã quá kì, khiến cho tiện thiếp băn khoăn, mẹ hiền lo lắng. Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo ra gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng.

Từ cách nói đến nội dung của những câu nói hiện lên một Vũ Nương dịu dàng, thiết tha với hạnh phúc, không hư danh, thương chồng và giàu lòng vị tha, một tâm hồn có văn hóa. Những ngày chồng đi xa, nàng thực sự là một người mẹ hiền, dâu thảo, chăm sóc thuốc thang tận tình khi mẹ chồng đau yếu, ma chay tế lễ chu tất khi mẹ chồng qua đời. Nguyễn Dữ đã đặt những lời ca ngợi đẹp đẽ nhất về Vũ Nương vào miệng của chính mẹ chồng nàng khiến nó trở nên vô cùng ý nghĩa: Ngắn dài có số, tươi héo bởi trời. Mẹ không phải không muốn đợi chồng con về, mà không gắng ăn miếng cơm miếng cháo đặng cùng vui sum họp. Song, lòng tham vô cùng mà vận trời khó tránh. Nước hết chuông rền, số cùng khí kiệt. Một tấm thân tàn, nguy trong sớm tối, việc sống chết không khỏi phiền đến con. Chồng con nơi xa xôi chưa biết sống chết thế nào, không thể về đền ơn được. Sau này, trời xét lòng, ban cho phúc đức, giống dòng tốt tươi, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con đã chẳng phụ mẹ. Người thiếu phụ tận tuỵ, hiếu nghĩa ấy còn là một người vợ thủy chung đối với chồng. Trong suốt ba năm chồng đi chinh chiến, người thiếu phụ trẻ trung xinh đẹp đó một lòng một dạ chờ chồng, nuôi con, mặc cho khi bướm lượn đầy vườn hay lúc mây che kín núi vẫn một mực chung thủy, sắt son với chồng.

Dưới ngòi bút của Nguyễn Dữ, Vũ Nương được mọi người yêu mến bởi tính tình, phẩm hạnh của nàng. Trong cái nhìn nâng niu trân trọng của ông, Vũ Nương là người phụ nữ của gia đình. Đức hạnh của nàng là đức hạnh của một người vợ hiền, dâu thảo, một người yêu mến cuộc sống gia đình và làm mọi việc để giữ gìn, vun vén cho hạnh phúc gia đình.

Người phụ nữ dịu dàng, hiếu nghĩa tận tụy và chung tình đó đáng ra phải được đền bù xứng đáng bằng một gia đình êm ấm, hạnh phúc. Nhưng đau đớn thay, một ngày kia chồng nàng trở về, nghe lời con trẻ đinh ninh là vợ có tình nhân, mắng nhiếc, đánh đập và đuổi nàng đi bất chấp sự can ngăn của họ hàng, làng xóm và lời than rớm máu của người vợ trẻ: Thiếp vốn là con nhà kẻ khổ, được nương tựa nhà giàu. Sum hợp chưa thỏa tình chăn gối, chia phôi vì động việc lửa binh. Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết. Tô son điểm phấn từng đã nguôi lạnh, ngõ liễu tường hoa chưa hề bén gót. Đâu có sự mất nết hư thân như lời chàng nói. Nhưng Vũ Nương càng thanh minh thì mối nghi ngờ của Trương Sinh càng lớn. Vũ Nương đã phải bất đắc dĩ nói: Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng sở dĩ có cái thú vui nghi gia thất. Nay đã bình rơi trâm gãy, mây tạnh mưa tan, sen rũ trong ao, liễu tàn trước gió; khóc tuyết bông hoa rụng cuống, kêu xuân cái én lìa đàn, nước thẳm buồm xa, đâu còn có thể lên núi vọng phu kia nữa.

Với trái tim tan nát, tuyệt vọng, Vũ Nương đã tìm đến cái chết. Đến bến Hoàng Giang, người thiếu phụ đau khổ nguyền rằng: Kẻ bạc mệnh này duyên phận hẩm hiu, chồng con ruồng bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám. Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ. và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ. Với nàng, cái chết là hành động quyết liệt cuối cùng cần phải có để bảo toàn danh dự.

Nhịp văn dồn dập, lời văn thống thiết như cực tả nỗi niềm đồng cảm, xót thương của tác giả đối với người thiếu phụ chung tình mà bạc mệnh! Thương Vũ Nương, thương cho số phận của những người phụ nữ đẹp người, đẹp nết mà chịu bất hạnh, Nguyễn Dữ đã sáng tạo ra một thế giới thần tiên êm đềm trong chốn làng mây cung nước để Vũ Nương được sống như một nàng tiên. Nhà văn cũng đã tạo ra một cuộc gặp gỡ kì thú giữa Phan Lang – một người dương thế – với Vũ Nương nơi động tiên. Cuộc gặp gỡ ấy đã làm sáng tỏ thêm những phẩm chất của Vũ Nương. Khi Phan Lang nhắc đến chuyện nhà cửa tổ tiên thì Vũ Nương ứa nước mắt khóc. Tính cách của nàng và bi kịch như được tô đậm khơi sâu một lần nữa. Nhưng dụng ý của nhà văn đưa phần truyền kì vào câu chuyện không chỉ có thế. Nguyễn Dữ muốn khẳng định một chân lí nghệ thuật: cái đẹp là bất hủ. Vũ Nương không sống được ở cõi đời thì sẽ sống vĩnh hàng ở cõi tiên, vì nàng hiện thân cho cái đẹp.

Câu chuyện về nàng Vũ Nương khép lại nhưng vấn đề mà Chuyện người con gái Nam Xương đặt ra là vấn đề có tính khái quát giàu ý nghĩa nhân văn. Phía sau tấn bi kịch của Vũ Nương có một cuộc chinh chiến, loạn li, gây cách biệt, nhưng căn bản là lễ giáo phong kiến hà khắc với tư tưởng nam quyền độc đoán đã biến Trương Sinh thành một bạo chúa gia đình… Để ngàn đời trên bến Hoàng Giang, khắc khoải niềm thương và nỗi ám ảnh dai dẳng về một người thiếu phụ trẻ trung, xinh đẹp, hiếu nghĩa, chung tình mà bạc mệnh. Đó là tất cả ý nghĩa mà chúng ta có thể cảm nhận được từ Chuyện người con gái Nam Xương.
 

Bài 2: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

Truyền kỳ mạn lục là một tác phẩm có giá trị của văn học cổ nước ta ở thế kỷ XVI, một tập truyện văn xuôi bằng chữ Hán đầu tiên ở Việt Nam. Truyện “Chuyện người con gái Nam Xương” là một truyện hay trong tác phẩm đó được trích trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ.

Truyện kể về một người phụ nữ tên là Vũ Thị Thiết ở huyện Nam Xương, tỉnh Hà Nam. Vốn là một người vợ đoan chính, đảm đang. Nàng giữ lòng chung thuỷ, hầu hạ mẹ chồng, chăm sóc con thơ trong suốt thời gian chồng đi lính ở phương xa. Khi trở về vì nghe lời ngây thơ của con trẻ, người chồng nghi ngờ nàng thất tiết nên đánh mắng đuổi đi. Không thể phân giải được oan tình, nàng trẫm mình ở sông Hoàng Giang. Cảm động vì lòng trung thực của nàng, Linh Phi (vợ vua biển) cứu vớt nàng và cho ở lại Long Cung. Người chồng biết vợ bị oan nên rất hối hận, lập đàn giải oan cho nàng. Vũ Nương hiện lên, ẩn hiện trong chốc lát rồi trở lại Long Cung.

Chuyện ca ngợi một người phụ nữ có phẩm chất, có tâm hồn trong sáng, sáng ngời như ngọc lại bị nỗi oan tày trời vì một chuyện vờ ghen vớ vẩn của người chồng nông nổi. Cuối cùng nàng phải tìm đến cái chết để giải nỗi oan tình.

Tác giả đặt nhân vật Vũ Nương vào những hoàn cảnh khác nhau, qua đó bộc lộ những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ. Vũ Nương vốn là người con gái có tư dung tốt đẹp, tính tình thuỳ mị, nết na. Khi lấy chồng, nàng luôn giữ gìn khuôn phép, không để vợ chồng phải thất hoà dù Trương Sinh vốn có tính hay ghen. Khi chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy tiễn chồng. Lời của nàng thật xúc động, nói về niềm yêu thương, mong nhớ của mình đối với người chồng sẽ đi xa, rồi bày tỏ nỗi lo lắng trước những gian lao nguy hiểm mà người chồng sẽ trải qua, niềm mong ước được đoàn tụ … làm mọi người trong tiệc đều ứa hai hàng lệ.

Chồng đi đánh giặc ngoài biên ải, nàng một lòng son sắt, thuỷ chung, “cách biệt ba năm, giữ gìn một tiết”, mong đợi chồng về trong cô đơn mòn mỏi “mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể, chân trời không thể nào ngăn được”. Hơn nữa, nàng là một người con dâu hiếu kính, tận tuỵ chăm sóc khi mẹ chồng còn sống, chôn cất mẹ chồng khi mẹ qua đời (lo liệu như đối với mẹ đẻ mình).

Rồi đằng đẵng thời gian trôi qua, chồng ra lính trở về, cùng là lúc nàng bị nghi oan. Vũ Nương đã phân trần để chồng hiểu rõ tấm lòng mình: “Thiếp vốn con kẻ khó … mong chàng đừng một mực nghi oan cho thiếp”. Nàng đã nói đến thân phận mình, tình nghĩa vợ chồng và khẳng định lòng chung thuỷ, hết lòng tìm cách hàn gắn hạnh phúc gia đình đang có nguy cơ bị tan vỡ. Dù họ hàng, làng xóm có bênh vực và biện bạch, Trương Sinh vẫn không tin. Bất đắc dĩ Vũ Nương thống thiết: “Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng … đâu có thể lên núi vọng phu kia nữa!”. Đó là hạnh phúc gia đình, niềm khao khát của cả đời nàng giờ đây tan vỡ. Tình yêu không còn, cả nỗi đau khổ chờ chồng giờ đây hoá đá….

Tuyệt vọng vì phải gánh chịu nỗi oan khuất tày trời không phương giải bày, cứu chữa nàng đành mượn cái chết để chứng tỏ tiết hạnh trong sáng của mình. lời khấn nguyện với thần linh vô cùng thảm thiết: “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Nga Mĩ. Nhược bằng lòng chim, dạ cá, lừa dối chồng con, được xin làm mồi cho cá tôm, trên xin làm cơm cho diều quạ và xin chịu khắp mọi người phỉ nhổ …” lời khấn nguyện đã làm cho người đọc xót xa – con người rơi cảnh ngộ bế tắc, không thể tiếp tục sống để tự giải oan tình mà phải tìm đến cái chết để thần linh chứng dám.

Sau một năm ở thuỷ cung, khi nghe kể chuyện nhà, nàng đã ứa nước mắt khóc, nghĩ đến câu “ngựa Hồ gầm giá Bắc, chim Việt đậu cành Nam” rồi hiện về trên dòng nước cho thoả lòng nhớ chồng, con.

Qua những hoàn cảnh khác nhau của vũ Nương, với những lời tự thoại của nàng, truyện đã khẳng định những nét đẹp truyền thống của người phụ nữ Việt Nam – một người phụ nữ đẹp người, lại nết na, hiền thục, đảm đang, tháo vát, rất mực hiếu kính với mẹ chồng, giữ vẹn lòng chung thuỷ sắt son với chồng, hết lòng vun đắp hạnh phúc gia đình, …. lẽ ra phải được hạnh phúc trọn vẹn thế mà phải chết một cách oan uổng, đau đớn.

Cái chết của Vũ Nương có nhiều nguyên nhân sâu xa, bắt nguồn từ hiện thực nghiệt ngã của lễ giáo phong kiến của xã hội cũ, với chế độ “nam quyền”, coi rẻ thân phận của người phụ nữ, rồi tính đa nghi, ghen tuông của chồng, thói hung bạo, gia trưởng của chồng đã làm khổ đau bao cuộc đời những người phụ nữ.

Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần không bình đẳng (thiếp vốn con nhà khó, được nương tựa nhà giàu). Xã hội phong kiến lại coi trọng “nam quyền”, hơn nữa Trương Linh lại có tính đa nghi, đối với vợ thì phòng ngừa quá mức. Những chi tiết này chuẩn bị cho những hành động độc đoán của Trương Sinh sau này.

Khi đánh giặc trở về, Trương Sinh cũng mang một tâm trạng nặng nề: mẹ qua đời, con vừa học nói, lòng buồn bã. Trong hoàn cảnh như thế, lời của Bé Đản dễ kích động tính hay ghen của Trương Sinh: “trước đây, thường có một người đàn ông đêm nào cũng đến…”

Điều đáng trách là thái độ và hành động độc đoán của Trương Sinh khi ấy. Không đủ bình tĩnh để tìm hiểu vấn đề, chàng bỏ ngoài tai những lời phân trần của vợ, những lời bênh vực của họ hàng, làng xóm, không chịu nói ra duyên cớ ghen hờn. Cuối cùng, Sinh lại mắng nhiếc nàng và đánh đuổi nàng đi. Thái độ và hành động của Trương Sinh vô hình dung dẫn đến cái chết oan nghiệt của Vũ Nương.

Hành động gieo mình xuống sông Hoàng Giang của Vũ Nương phản ánh một thực trạng về thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến. Họ bị buộc chặt trong khuôn khổ khắt khe của lễ giáo, bị đối xử bất công, bị áp bức và chịu nhiều khổ đau, bất hạnh. Đó cũng chính là giá trị tố cáo hiện thực của tác phẩm. Đằng sau nỗi oan của người thiếu phụ Nam xương, còn bao nhiêu oan tình bất hạnh mà người phụ nữ ngày xưa phải gánh chịu: Nàng Kiều trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, người cung nữ trong “cung oán ngâm khúc” của Nguyễn Gia Thiều, người phụ nữ lỡ duyên tình trong thơ Hồ Xuân Hương, …

Phải nhận thấy rõ rằng với truyện ngắn đầu tiên viết bằng chữ Hán, Nguyễn Dữ đã có những mặt thành công trong nghệ thuật xây dựng truyện, xây dựng những đoạn đối thoại. Cách kể chuyện hấp dẫn, xây dựng tình tiết, thắt nút và gỡ nút thật bất ngờ, đầy kịch tính, càng làm cho nỗi oan tình của nhân vật hiện ra với tất cả nét thảm khốc.

“Thắt nút” truyện bằng yếu tố bất ngờ. Một câu nói ngây thơ nghe như thật của trẻ thơ mà gây bão tố dây chuyền trong cuộc đời. Bão tố nghi kị trong một đầu óc nam quyền độc đoán, thiếu trí tuệ ; bão tố bất hoà dữ dội phá tan hạnh phúc của một gia đình êm ấm. Bão tố oan khiên phá nát cuộc đời của một người con gái trong trắng, phải kết thúc bi thảm trên một dòng sông.

“Gỡ nút” cũng bất ngờ bằng một câu nói trẻ thơ non dại (khi chỉ cái bóng của chàng Trương trên vách: “cha Đản lại đến kia kìa” thì bao nhiêu oan khiên gây thảm kịch trong phút chốc bỗng được sáng tỏ.)

Truyện có những đoạn đối thoại và những lời tâm tình của nhân vật được sắp xếp đúng chỗ, làm cho câu chuyện trở nên sinh động, góp phần khắc hoạ diễn biến tâm lí và tính cách nhân vật; lời nói của bà mẹ Trương Sinh nhân hậu, từng trải; lời lẽ của Vũ Nương bao giờ cũng chân thành, dịu dàng, mềm mỏng, có lí, có tình – lời của người phụ nữ hiền thục, đoan chính; lời của Bé Đản hồn nhiên, ngây thơ, thật thà.

Chuyện đáng lẽ có thể kết thúc ở đoạn “gỡ nút” truyện, chàng Trương Sinh tỉnh ngộ, thấu hiểu nỗi oan của Vũ Nương nhưng Nguyễn Dữ đã thêm phần Vũ Nương trở về dương thế, gặp chồng trong thoáng chốc. So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, Nguyễn Dữ đã tái tạo truyền kì từ cổ tích để nâng truyện lên những giá trị tư tưởng và thẩm mĩ mới. Điều đó, làm tăng thêm sức hấp dẫn của truyện và hoàn chỉnh tính cách nhân vật Vũ Nương, thoả mãn ước mơ của nhân dân là “ở hiền gặp lành”, ngưởi tốt sẽ được đền bù. Truyện kết thúc có hậu. Trong truyện, những yếu tố truyền kì tập trung ở phần sau của truyện như con rùa mai xanh được Phan Lang cứu, Vũ Nương được ở lại Thuỷ Cung, rồi hiện về với kiệu hoa rực rỡ trên sông… đó là những tình tiết kì ảo, không có thực nhưng đã tạo ra một thế giới nghệ thuật lung linh huyền ảo.

Số phận và cuộc đời thực sự vẫn là thực xưa nay. Yếu tố hoang đường truyền kì không thể cứu được cuộc đời Vũ nương với số phận bi thảm của nàng. Vũ Nương muốn sống lại mà không được sống, muốn trở về với chồng con và quê hương mà không thể trở về được.

Truyện “Người con gái Nam Xương” có giá trị hiện thực tố cáo và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Nghĩ về Vũ Nương và biết bao thân phận người phụ nữ khác trong xã hội phong kiến được phản ánh trong các tác phẩm văn học cổ, chúng ta càng thấy rõ giá trị cuộc sống của những người phụ nữ Việt Nam trong một xã hội tốt đẹp hôm nay. Họ đang vươn lên làm chủ cuộc đời, sống bình đẳng, hạnh phúc với chồng con và được đề cao nhân phẩm trong xã hộ, xã hội của thời đại mới.

Bài 3: Phân tích nhân vật Vũ Nương trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ

Nguyễn Dữ là một trong số những tác giả xuất sắc của nền văn học trung đại Việt Nam và tác phẩm “Truyền kì mạn lục” là một trong số những tác phẩm xuất sắc nhất của ông. Mỗi câu chuyện trong “Truyền kì mạn lục” đều để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc và “Chuyện người con gái Nam Xương” – truyện thứ 16 trong tổng số 20 truyện của tác phẩm chính là một trong số những truyện đặc sắc nhất. Đọc “Chuyện người con gái Nam Xương” người đọc sẽ không thể nào quên được hình ảnh của Vũ Nương – một người phụ nữ với nhiều phẩm chất tốt đẹp nhưng lại chịu số phận bất hạnh.

Trước hết, trong tác phẩm “Chuyện người con gái Nam Xương” Vũ Nương hiện lên trong mối quan hệ với Trương Sinh – chồng của mình và qua đó nàng hiện lên là một người phụ nữ thủy chung, hết lòng yêu thương, quan tâm chồng con. Ngay từ đầu tác phẩm, tác giả Nguyễn Dữ đã giới thiệu Vũ Nương là một người phụ nữ vừa đẹp người, vừa đẹp nết, “tính tình thùy mị, nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” và có lẽ cũng chính vì vậy, Trương Sinh đã xin mẹ “đem 100 lạng vàng cưới về”. Và đúng như những gì Trương Sinh mong ước, chờ đợi, trong cuộc sống ngày thường của hai vợ chồng, Vũ Nương luôn khéo léo ứng xử, nhường nhịn và giữ gìn khuôn phép để cuộc sống gia đình được ấm êm, hạnh phúc bởi hơn ai hết, nàng biết chồng mình là người “có tính đa nghi”, “đối với vợ phòng ngừa quá mức”.

Cuộc sống vợ chồng êm ấm, hạnh phúc chưa được bao lâu thì Trương Sinh phải đi lính. Lắng nghe những lời dặn dò chồng thiết tha, nghĩa tình của Vũ Nương trước lúc chồng lên đường người ta mới có thể cảm nhận hết được sự dịu dàng và tình yêu thương chồng vô bờ bến của nàng. Nàng đã đặt hạnh phúc của tổ ấm, của gia đình lên trên hết mà coi thường mọi thứ vinh hoa, danh vọng bên ngoài “Thiếp chẳng dám mong được đeo ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên”. Và trong lời bộc bạch của mình nàng như thấy và cảm thông hết bao nỗi gian lao, vất vả mà chồng sẽ phải chịu đựng, phải vượt qua trên hành trình phía trước “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao”. Đặc biệt, nàng cũng gửi gắm nỗi lòng, sự khắc khoải, xa nhớ chồng của mình trước lúc Trương Sinh đi qua những hình ảnh, những câu chữ thật cảm động lòng người “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoan, lại thổn thức tâm tình”.

Không dừng lại ở đó, trong suốt những ngày sống xa chồng, sự thủy chung, son sắt và tình yêu thương, nỗi nhớ chồng của Vũ Nương lại càng được thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết. Nỗi nhớ chồng như chiếm trọn hết mọi khoảng không gian, thời gian và tâm trí nàng, nỗi nhớ ấy cứ lặp đi lặp lại không nguôi không dứt “mỗi khi thấy bươm bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi” nàng lại “thổn thức tâm tình, buồn thương da diết”. Và trong những ngày tháng ấy, nàng luôn mơ về một tương lai được sống cạnh chồng, như hình với bóng.

Thế nhưng, sau những tháng ngày đằng đẵng xa chồng, một mình nuôi con, chăm mẹ già, những tưởng ngày trở về hai vợ chồng sẽ có cuộc sống êm ấm, hạnh phúc. Nhưng chỉ vì một câu nói của con mà Trương Sinh nghi oan nàng không còn thủy chung, Vũ Nương đã dùng mọi lời lẽ, phân trần với mong muốn chồng có thể hiểu, có thể cảm nhận được sự trinh bạch và nỗi lòng của mình. Trong lời phân trần của bản thân, nàng đã nhắc đến thân phận của mình và khẳng định tấm lòng thủy chung, trong trắng đối với chồng “Cách biệt ba năm giữ gìn một tiết”. Nàng còn hết mực cầu xin chồng đừng nghi oan cho mình nhưng tất cả mọi thứ đều vô nghĩa, vẫn không thể làm thay đổi được suy nghĩ của Trương Sinh. Bất lực và tuyệt vọng, nàng đã mượn bến Hoàng Giang để bày tỏ nỗi lòng của mình “Thiếp nếu đoan trang giữ tiết, trinh bạch gìn lòng, vào nước xin làm ngọc Mị Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu mĩ. Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho tôm cá, trên xin làm cơm cho diều quạ” và lựa chọn cái chết như một sự minh oan cho chính mình.

Suốt những năm tháng sống nơi Thủy cung, nàng vẫn luôn một lòng hướng về chồng, về con, về quê hương và khao khát một ngày được trở về đoàn tụ. Điều đó thể hiện rõ nét qua việc nàng nhận ra Phan Lang là người cùng làng và khi nghe Phan Lang kể chuyện gia đình thì ứa nước mắt. Và hơn ai hết, nàng luôn khao khát được trả lại sự trong sạch cho bản thân, nàng gửi chiếc thoa vàng, nhờ Phan Lang nói với Trương Sinh lập đàn giải oan cho mình. Đồng thời, dù nhớ thương chồng con, khao khát được đoàn tụ nhưng nàng vẫn quyết giữ lời hứa sống chết bên Linh Phi, điều đó cho thấy nàng là một người trọng nghĩa tình.

Như vậy, với vai trò là một người vợ, Vũ Nương hiện lên là một người thủy chung, mẫu mực, hết lòng yêu thương chồng. Còn trong mối quan hệ với mẹ chồng, nàng hiện lên là một người con dâu hiếu thảo, hết lòng phụng dưỡng mẹ chồng. Trong những ngày Trương Sinh xa nhà đi lính, Vũ Nương đã thay chồng chăm sóc mẹ chồng khi đau ốm “Nàng hết sức thuốc thang lễ bái thần phật và lấy lời ngọt ngào khôn khéo khuyên lơn”. Khi mẹ chồng mất, nàng lo liệu ma chay chu đáo như đối với cha mẹ mình. Và tấm lòng của chàng đối với mẹ chồng được khắc họa rõ nét qua lời nói của mẹ chồng trước khi mất “Xanh kia quyết chẳng phụ con cũng như con đã chẳng phụ mẹ”.

Cuối cùng, trong mối quan hệ với con, Vũ Nương hiện lên là một người mẹ hết lòng yêu thương con. Thiếu vắng chồng nhưng nàng đã một mình sinh con và nuôi dạy con khôn lớn. Nàng hết lòng yêu thương con, không muốn con thiếu thốn tình cảm nên tối nào nàng cũng chỉ lên cái bóng của mình trên vách nhà mà nói “Kìa, cha Đản lại đến thăm Đản kia kìa.”

Tóm lại, với nghệ thuật xây dựng tình huống truyện độc đáo, đẩy nhân vật vào những tình huống giàu kịch tính cùng cách kể chuyện đặc sắc, “Chuyện người con gái Nam Xương” đã xây dựng thành công nhân vật Vũ Nương – một người phụ nữ với vẻ đẹp toàn diện trong xã hội phong kiến.

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây