Loading...

Dựa theo bản “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ”, hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lí Công uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh đất nước

Chủ nhật - 13/01/2019 14:40

Lịch sử bốn ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam luôn gắn liền với tên tuổi của nhừng người anh hùng dân tộc vĩ đại. Đứng bên cạnh đế quốc phương Bắc hùng mạnh “Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có” (Nguyễn Trãi). Đọc lại văn bản của áng văn “Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn và bản hùng văn bất hủ muôn đời “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, chúng ta thấy sáng ngời nhân cách và hành động vì dân vì nước của tác giả. Chúng ta đã thấy vai trò cùa người lãnh đạo anh minh có ý nghĩa vô cùng to lớn trong trường kì phát triển của dân tộc.

Dựa theo bản “Chiếu dời đô” và “Hịch tướng sĩ”, hãy nêu suy nghĩ của em về vai trò của những người lãnh đạo anh minh như Lí Công uẩn và Trần Quốc Tuấn đối với vận mệnh đất nước

Loading...
“Chiếu dời đô” của Lí Công Uẩn là sự tỏ bày ý định dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra thành Đại La (tức Hà Nội ngày nay) khi ông vua mới được triều đình tôn lên làm hoàng đế. Đấy là năm Thuận Thiên thứ nhất - năm khởi đầu sự nghiệp lẫy lừng của nhà Lí - một triều đại có ý nghĩa hết sức quan trọng đưa văn hiến của nước nhà lên đỉnh cao vòi vọi. Đây là triều đại hưng thịnh nhất ghi dấu ấn những chiến công và những thành tựu rất quan trọng về văn hóa Phật giáo cho dân tộc.
 
Xưa nay, thủ đô là trung tâm về văn hóa, chính trị của một đất nước. Nhìn vào thủ đô là nhìn vào sự thịnh suy của một dân tộc. Thủ đô có ý nghĩa rất lớn. Việc lập đô là một vấn đề trọng đại quyết định phần nào tới tương lai của nước.
 
Trong chế độ phong kiến, thủ đô luôn gắn bó với dòng tộc họ giai cấp quí tộc luôn gắn bó với vùng đất đó. Thủ đô là trái tim của cả nước, vị trí của thủ đô có ý nghĩa vô cùng quan trọng với sự phát triển của đất nước.
 
Người ta thường nói đến sự vĩ đại của Nga Pi-e đệ nhất của nước Nga. Một trong những hành động “ghê gớm” nhất, gây nên bao nhiêu bất ổn khi vua quyết định dời đô xuống một vùng đầm lầy. Theo nhà vua đó là cách để phát triển lực lượng hải quân, là cách để xóa bỏ đi những hình ảnh của nước Nga xưa cũ và lạc hậu. Đưa thủ đô đến đầm lầy để có thành Pê-tec-bua là một thử thách. Nếu làm được, chứng tỏ dân Nga có những khả năng tiềm tàng to lớn.
 
Dường như lịch sử của các dân tộc có nền văn minh lâu đời đều có những cuộc dời đô như thế. Mỗi lần là một thử thách của dân tộc. Mỗi lần phải là một quyết định của những đầu óc ưu tú nhất thời đại.
 
Nói cách khác, không có ý chí quyết tâm lớn, không có tầm nhìn thấu cả tương lai thì Lí Công Uẩn không thể nói chuyện dời đô. Đây là vấn đề đụng chạm tới những điều nhạy cảm nhất của quốc gia dân tộc; là vấn đề đụng chạm tới bao nhiêu quyền lợi của các gia tộc, tập đoàn người...
 
“Chiếu dời đô” không phải là hành động là ý chí của một người. Nó là biểu hiện cho xu thế tất yếu của lịch sử, Lí Công Uẩn tuyệt vời là đã hiểu được khát vọng của nhân dân, khát vọng của lịch sử. Dân tộc Việt không chỉ là một nước độc lập. Muốn bảo vệ điều ấy thì non sông, nhân tâm con người phải thu về một mối. Tất cả thần dân phải có ý chí tự cường để xây dựng nước Đại Việt thành quốc gia thống nhất vững mạnh. Muốn vậy, việc đầu tiên là phải tìm một nơi “trung tâm của trời đất” một nơi có thế “rồng cuộn hổ ngồi”. Nhà vua đã rất tâm đắc và hào hứng nói tới cái nơi “đúng ngôi nam bắc đông tây” lại “nhìn sông dựa núi”. Nơi đây không phải là miền Hoa Lư chật hẹp, núi non bao bọc lởm chởm mà là “địa thế rộng mà bằng, đất đai cao mà thoáng”. Thật cảm động, vị vua anh minh khai mở một triều đại chói lọi trong lịch sử Đại Việt đã rất quan tâm tới nhân dân. Tìm chốn lập đô cũng vì dân, mong cho dân được hạnh phúc: “Dân khỏi chịu cảnh khốn khổ ngập lụt”. Nơi đây dân sẽ được hưởng no ấm thái bình vì “muôn vật cũng rất mực phong phú tốt tươi”. Nhà vua đánh giá kinh đô Thăng Long sắp sửa “Xem khắp đất Việt ta, chỉ nơi này là thắng địa. Thật là chốn hội tụ trọng yếu của bốn phương đất nước, cũng là nơi kinh đô bậc nhất của đế vương muôn đời”.
 
Trong niềm tin của vua, có một kinh đô như vậy, nước Đại Việt sẽ bền vững muôn đời.
 
Có thể nói, với trí tuệ anh minh tuyệt vời, với lòng nhân tuyệt vời, nhà vua Lí Công Uẩn đã bày tỏ ý định với các quan trong triều ý định dời đô giàu sức thuyết phục. Theo em, phần đầu nhà vua đưa ra những lí lẽ thuyết phục là nhờ những bằng chứng sử sách. Nhưng phần sau nhà vua đã đưa ra những suy nghĩ của riêng mình về miền đất mà vua định lập đô không chỉ làm cho ta thỏa mãn về lí trí mà quan trọng hơn là bị thuyết phục bằng tình cảm. Ta bắt gặp ở đây một giọng nói đầy nhân từ, tấm lòng lo cho dân cho nước rất mực. Với tài năng và đức độ như vậy, việc dời đô ra Thăng Long có thể gặp nhiều khó khăn nhưng không thể không làm.
 
Những điều vua nói cách đây cả ngàn năm nhưng hôm nay nhìn lại vẫn giữ nguyên tính chân lí của nó. Trải qua bao thăng trầm, con rồng bay lên trên bầu trời Hà Nội vẫn làm cho người dân cả nước chiêm bái phục nhân cách, tài năng một vị vua anh minh vĩ đại. Đó là Lí Công Uẩn - Lí Thái Tố.
 
Dời đô ra Thăng Long là một bước ngoặt rất lớn. Nó đánh dấu sự trưởng thành của dân tộc Đại Việt. Chúng ta không cần phải sống trong thế phòng thủ, phải dựa vào thế hiểm trở như ở Hoa Lư để đối phó với quân thù. Chúng ta đủ lớn, đủ mạnh để lập đô ở nơi có thể đưa đất nước phát triển đi lên, đưa đất nước trở thành quốc gia độc lập sánh vai với phương Bắc. Kinh đô Thăng Long quả là cái nôi lập đế nghiệp cho muôn đời, là nơi để cho sơn hà xã tắc được bền vững muôn đời vậy!
 
Tiếp theo triều đại nhà Lí rất vẻ vang với sự khởi thủy là vị vua anh minh Lí Thái Tổ, nước Đại Việt viết tiếp những trang sử vàng chói lọi của mình ở thời đại nhà Trần với đầy những chiến công lấp lánh hào khí Đông A. Những người lãnh đạo thời kì này đều ghi tên mình vào sử sách. Những con người đã được nhân dân Việt Nam thờ và gọi Đức Thánh Trần chính là Trần Quốc Tuấn, tác giả “Hịch tướng sĩ”. Người anh hùng dân tộc này sở dĩ tên tuổi “muôn đời bất hủ” “lưu danh trong sử sách”, là nhờ những chiến công giữ nước tuyệt vời. Trần Hưng Đạo gắn tên mình với Bạch Đằng, Chương Dương, Hàm Tử. Là người đã bẻ gãy ý đồ xâm lược hung hăng của đế quốc Nguyên – Mông đã làm mưa làm gió trên thế giới.
 
Nhà quân sự kiệt xuất này có những chiến công hiển hách là nhờ ông quan tâm tới vận mệnh nước nhà bằng trái tim ý chí của một anh hùng dân tộc.
 
Nếu Lí Công Uẩn dời đô ở Thăng Long thì Trần Hưng Đạo đã ra lệnh rời bỏ thủ đô để tiến hành kháng chiến. Thật cảm động, khi về lại Thăng Long sau bao nhiêu máu xương đã đổ, vua Trần đã viết:
 
“Xã tắc hai phen bon ngựa đá.
Nghìn năm vạn thuở vững âu vàng”.
 
Đọc “Hịch tướng sĩ” cứ ngỡ như nghe tiếng nói của cha ông, của non nước. Nó nồng nàn một tinh thần yêu nước, nó biểu hiện một lòng căm thù giặc sâu sắc, một ý chí quyết chiến quyết thắng quân thù không chỉ là của riêng Trần Hưng Đạo mà là kết tụ trong đó những ý nguyện tình cảm của dân tộc.
 
Trước tai họa đang đến gần, quân Nguyên - Mông đang lăm le xâm lược lần thứ hai với qui mô chưa từng thấy hòng không cho một ngọn cỏ của nước Đại Việt được mọc dưới vó ngựa của 50 vạn quân, Trần Quốc Tuấn đã viết “Hịch” để kêu gọi tướng sĩ một lòng, chuẩn bị đương đầu với cuộc chiến sống còn.
 
Trần Quốc Tuấn đau nỗi đau của dân tộc, nhục cái nhục quốc thể. Viết cho tướng sĩ, nhưng ta thấy ông phơi trải tấm lòng mình. Nổi bật nhất là bộc lộ lòng căm thù giặc. Tác giả thật ngứa mắt khi thấy “sứ giặc đi lại nghênh ngang”, thật ngứa tai khi chúng “uốn lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình”. Tác giả rất khinh bỉ, đã “vật hóa” chúng, gọi là “dê chó”“hổ đói”.
 
Ngày mỗi ngày nhìn những tên sứ giặc làm nhục triều đình Trần Quốc Tuấn đã tích tụ nỗi hận thù và ông muốn mọi tướng sĩ phải có lòng căm hận ấy. Muốn mọi người phải có tinh thần xã thân để thà chết chứ không chịu phục.
 
“Ta thường tới bữa quèn ăn, nửa đêm quên vỗ gối, ruột đau như cắt nước, mắt đầm đìa; chỉ căm tức chưa được xả thịt, lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ. Nghìn xác này gói trong da ngựa ta cũng cam lòng”.
 
Đứng trước tình cảnh nước nhà ngàn cân treo sợi tóc, Trần Quốc Tuấn nghiêm khắc cảnh cáo những thói hư tật xấu của đám tướng sĩ đang sao nhãng trước những hiểm nguy của đất nước.
 
Vị tướng đã mỉa mai:
 
“Nếu có giặc Mông Cổ tràn sang thì cựa gà trống không thể dâm thủng áo giáp giặc, mẹo cờ bạc không thể dùng làm mưu lược nhà binh...”
 
Và hiểm họa trước mắt thật đau xót:
 
“Lúc bấy giờ ta cùng các ngươi sẽ bị bắt, đau xót biết chừng nào!”
 
Đất nước bị mất có nghĩa là vợ con gia quyến khốn cùng, phần mộ tổ tiên bị giày xéo, khai quật; làm danh tướng nhưng chịu nhục muôn đời…
 
Trần Quốc Tuấn đã ân cần khuyên bảo tướng sĩ không có một lựa chọn nào khác là phải học binh thư, phải từ bỏ tất cả sự hưởng thụ để rèn luyện võ nghệ, binh mã cho một cuộc chiến rất ác liệt sắp xảy ra.
 
Thật là hả hê khi chúng ta chiến thắng quân thù. Chưa đánh giặc nhưng người cầm quân đã ca khúc khải hoàn chiến thắng “Chẳng những thân ta kiếp này đắc chí, mà đến các ngươi trăm năm về sau tiếng van lưu truyền”.
 
Cùng với sông núi muôn đời thái bình bền vững là tên tuổi được lưu danh sử sách. Quả là hạnh phúc biết bao nhiêu!
 
Qua tâm sự của Trần Quốc Tuấn với mình với các tướng lĩnh, ta thấy tầm vóc vĩ đại của một người anh hùng thức ngủ, lo toan, dành hết nhiệt tình và cân não của mình cho đất nước.
 
Trần Quốc Tuấn rất hiểu ý nguyện độc lập, tự chủ của dân tộc Đại Việt; rất hiểu lòng dân, lòng người tướng sĩ cho nên những lời gan ruột lo cho đất nước sẽ tạo được sự đồng cam của đối tượng mà ông muốn thuyết phục. Tấm lòng lo cho đất nước, luôn nghĩ tới sự yên bình cho xã tắc mà dám hi sinh, dám chiến đấu là điều mà người đời sau cảm nhận rất rõ trong nhân cách, tài năng, đức độ của Đức Thánh Trần.
 
Hai người ở hai triều đại khác nhau; ở hai cương vị khác nhau; cống hiến tài năng và tâm sức khác nhau cho đất nước Đại Việt. Dù là ông vua, hay là tiết chế thống lĩnh các đạo quân; dù là dựng nước hay giữ nước... nhưng con cháu hôm nay đọc lại “Chiếu dời đô”“Hịch tướng sĩ” không khỏi tự hào về vai trò của các nhà lãnh đạo đất nước trong quá khứ. Những vị anh hùng lãnh đạo anh minh luôn tạo ra những bước chuyển mình có ý nghĩa cho dân tộc cho thời đại.
 
Con người đẹp nhất Việt Nam thế kỷ XX là Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định vai trò to lớn của Người với lịch sử Việt Nam hiện đại. Chúng ta đã và đang sống trong thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng. Bác đã dựng nền Cộng hòa cho nước Việt Nam mới. Bác đã cùng con cháu lập nên những kì tích chói ngời. Bác và các vị anh hùng dân tộc khác đang cùng con cháu bước vào thời kì đưa đất nước tiến tới phồn vinh.
 
Trong hạnh phúc hôm nay, chúng ta thầm cảm ơn những tiền nhân đã cống hiến tất cả công sức, tấm lòng dựng nước và giữ nước. Chúng ta cần có những khoảng lặng trong tâm hồn để lắng nghe tiếng nói truyền thống, của quá khứ.
 
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về.
(Đất nước - Nguyễn Đình Thi)
Loading...
 

 
Tổng số điểm của bài viết là: 11 trong 3 đánh giá
Xếp hạng: 3.7 - 3 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Bài cùng chuyên mục: Lớp 8

 

Xem tiếp...

Bài viết mới

 

Bài viết cũ

Loading...
XEM NHIỀU TRONG TUẦN