Giải vở bài tập Tiếng Việt 5 tập 1, tuần 13

Thứ ba - 08/09/2020 09:48
Giải vở bài tập Tiếng Việt 5 tập 1, tuần 13

Hướng dẫn giúp các em học sinh giải vở bài tập Tiếng Việt 5 tập 1, tuần 13. Gồm các phần:
- Chính tả
- Luyện từ và câu: Mở rộng vốn từ: Bảo vệ môi trường
- Tập làm văn: Luyện tập tả người (Tả ngoại hình)
- Luyện từ và câu: Luyện tập về quan hệ từ
- Tập làm văn: Luyện tập tả người (Tả ngoại hình)

CHÍNH TẢ
1. Trả lời:
a) Viết các từ ngữ chứa những tiếng sau:

sâm: nhân sâm, củ sâm, chim sâm cầm, sâm sẫm tối
xâm: xâm nhập, xâm xấp, xâm lấn, xâm phạm
sương: sương gió, sương mù, sương muối, sung sướng
xương: xương tay, xương trâu, xương chân, xương sườn, còng xương
sưa: say sưa, sữa chữa, cốc sữa, con sứa
xưa: ngày xưa, xưa kia, xa xưa
siêu: siêu nước, siêu cơm, siêu âm, siêu sao
xiêu: xiêu vẹo, xiêu lòng, liêu xiêu, nhà xiêu

b) Viết các từ ngữ có tiếng chứa vần ghi trong bảng sau :
uôt : buột miệng, rét buốt, con chuột, suốt lúa, tuồn tuột
uôc: buộc lạt, buộc tóc, cuốc đất, thuốc cảm, mắm ruốc
ươt: xanh mướt, mượt mà, là lượt, thước tha, vượt qua.
ước: điều ước, cây đước, vết sước, nước sôi, thược dược
iêt: tiết kiệm, chiết cành, chì chiết, viết thư, da diết
iêc: xiếc thú, xanh biếc, nuối tiếc, chim diệc, mỏ thiếc

2. Điền vào chỗ trống :
Trả lời:
a) s hoặc x :
Đàn bò trên đồng cỏ xanh xanh
Gặm cả hoàng hôn, gặm buổi chiều sót lại.
b) t hoặc c :
Trong làn nắng ửng : khói mơ tan
Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng
Sột soạt gió trêu tà áo biếc
Trên giàn thiên lí. Bóng xuân sang.

LUYỆN TỪ VÀ CÂU
MỞ RỘNG VỐN TỪ : BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
1. Đọc đoạn văn sau :
Dựa vào nội dung đoạn văn, trả lời câu hỏi : “Khu bảo tồn đa dạng sinh học” là gì?
Trả lời:
Là nơi lưu giữ được nhiều loài động vật và thực vật. Rừng nguyên sinh Nam Cát Tiên là khu bảo tồn đa dạng sinh học vì rừng có động vật, có thảm thực vật rất phong phú.

2. Viết các từ ngữ chỉ hành động cho dưới đây vào chỗ trống thích hợp trong bảng phân loại :
Trả lời:
a) Hành động bảo vệ môi trường: trồng cây, trồng rừng, phủ xanh đồi trọc.
b) Hành động phá hoại môi trường : phá rừng, đánh cá bằng mìn, xả rác bừa bãi, đốt nương, săn bắn thú rừng, đánh cá bằng điện, buôn bán động vật hoang dã.

3. Chọn một trong các cụm từ ở bài tập 2 làm đề tài (M : phủ xanh đồi trọc), em hãy viết một đoạn văn khoảng 5 câu về đề tài đó. 
Đề bài : Hành động phá hoại môi trường - xả rác bừa bãi.
Hướng dẫn:
Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố có tỉ lệ dân cư đông đúc, xếp vào hàng cao nhất nước ta. Thế nhưng, ở một thành phố sầm uất như vậy, tình trạng xả rác bừa bãi vẫn còn tiếp diễn. Đi dọc theo các con đường, ta dễ dàng thấy những bọc ni-lon, những mảnh giấy báo vứt bừa bãi. Thậm chí trong công viên, hay ở trạm chờ xe buýt, bả kẹo cùng với vỏ chai đầy rẫy. Trong khi đó, những thùng rác công cộng không phải là ít. Hi vọng trong thời gian tới, cùng với chiến dịch làm sạch thành phố và phong trào phát động người dân nâng cao ý thức trong việc giữ gìn vệ sinh công cộng, mỗi người dân phải tự thấy được vai trò của mình trong công việc chung ấy - để thành phố xanh tươi hơn, đẹp và sạch hơn.

TẬP LÀM VĂN
LUYỆN TẬP TẢ NGƯỜI
(Tả ngoại hình)
1. Chọn làm một trong hai bài tập a hoặc b :
a) Đọc lại bài Bà tôi của Mác-xim Goóc-ki (sách Tiếng Việt 5, tập một, trang 22 - 123), trả lời vắn tắt các câu hỏi sau :
- Đoạn 1 tả đặc điểm gì về ngoại hình của bà ?
Trả lời:
- Tả mái tóc của bà qua đôi mắt nhìn của đứa cháu (gồm 3 câu).
+ Tóm tắt các chi tiết được miêu tả ở từng câu.
Trả lời:
Câu 1 : mở đoạn, giới thiệu bà ngồi cạnh cháu, chải đầu.
Câu 2 : tả khái quát mái tóc của bà với Các đặc điểm : đen, dày, dài kì lạ.
Câu 3 : tả độ dày của mái tóc qua cách bà chải đẩu tả từng động tác của bà.
+ Các chi tiết đó quan hệ với nhau như thế nào ?
Trả lời:
Ba câu, ba chi tiết quan hệ chặt chẽ với nhau, chi tiết sau làm rõ chi tiết trước.
- Đoạn 2 còn tả những điểm gì về ngoại hình của bà ?
Trả lời:
- Tả giọng nói, đôi mắt và khuôn mặt của bà (gồm 4 câu).
+ Câu 1 - 2 tả giọng nói (câu 1 tả đặc điểm chung của giọng nói, câu 2 tả tác động giọng nói, tới tâm hồn cậu bé).
+ Câu 3: tả sự thay đổi của đôi mắt bà mỉm cười. Tinh cảm ẩn chứa trong đôi mắt.
+ Câu 4 : tả khuôn mặt của bà.
Các đặc điểm đó quan hệ với nhau thế nào ? chúng cho biết điều gì về tính tình của bà ? 
Trả lời:
- Các đặc điểm đó quan hệ chặt chẽ với nhau, cho nhau, làm hiện rõ vẻ ngoài cùng tính tình của bà : dịu dàng, dịu hiền, tâm hổn tươi trẻ, yêu đời và lạc quan.

b) Đọc đoạn văn Chú bé vùng biển (sách Tiếng Việt 5, tập một, trang 130), trả lời các câu hỏi sau :
- Đoạn văn tả những đặc điếm nào vẽ ngoại hình của bạn Thắng ?
Trả lời:
Câu 1: Đoạn văn giới thiệu chung về Thắng.
Câu 2: Tả chiều cao của Thắng.
Câu 3: Tả nước da của Thắng. Câu 4: Tả thân hình của Thắng.
Câu 5: Tả cặp mắt của Thắng Câu 6: Tả cái miệng của Thắng.
Câu 7: Tả cái trán của Thắng.
- Những đặc điểm ấy cho biết điều gì về tính tình của Thắng ?
Trả lời:
Tất cả những đặc điểm được miêu tả trên hỗ trợ cho nhau, làm hiện rõ vẻ ngoài của Thắng : một đứa trẻ lớn lên ở biển, bơi lội rất giỏi, có sức khỏe dẻo dai và cả sự thông minh, bướng bỉnh nhưng gan dạ và tươi vui của Thắng.

2. Lập dàn ý cho bài văn tả một người mà em thường gặp (thầy giáo, cô giáo, chú công an, người hàng xóm, ...).
Hướng dẫn:
1. Mở bài: Giới thiệu người định tả (tên gì ? ở đâu ? em gặp gỡ lúc nào ?
2. Thân bài: Tả cô giáo cũ của em.
- Ngoại hình (tuổi tác, hình vóc, khuôn mặt, mái tóc, hàm răng).
- Tính tình ; (giản dị, dịu dàng, thương yêu học trò hết mực, giảng bài dễ hiểu, sẵn sàng giảng lại và là một người nhiệt tình với đồng nghiệp).
- Cô để lại cho em những ấn tượng khó quên.
3. Kết bài:
Nêu cảm nghĩ của em.
- Em luôn yêu kính cô giáo.
- Mong cô có sức khỏe tốt. Cố gắng học tốt để xứng đáng là học trò của cô.

LUYỆN TỪ VÀ CÂU
LUYỆN TẬP VỂ QUAN HỆ TỪ
1. Gạch dưới các cặp quan hệ từ trong những câu sau :
Trả lời:
a) Nhờ phục hồi rừng ngập mặn mà ở nhiều địa phương, môi trường đã có những thay đổi rất nhanh chóng.
b) Lượng cua con trong vùng rừng ngập mặn phát triển, cung cấp đủ giống không những cho hàng nghìn đầm cua ở địa phương mà còn cho hàng trăm đầm cua ở các vùng lân cận.

2. Chuyển mỗi cặp câu trong đoạn a hoặc đoạn b dưới đây thành một câu sử dụng các cặp quan hệ từ vì ... nén hoặc chẳng những .... mà ... (viết câu vào chỗ trống trong bảng).
a) Mấy năm qua, chúng ta đã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền để người dân thấy rõ vai trò của rừng ngập mặn đối với việc để bảo vệ điều. Vì thế ở ven biển các tỉnh như Cà Mau, Bạc Liêu, Nghệ An, Thái Bình, Quảng Ninh.... đều có phong trào trồng rừng ngập mặn. 
Trả lời:
Sử dung cặp quan hệ từ Vì... nên....
Mấy năm qua, chúng ta đã làm tốt công tác thông tin, tuyên truyền để người dân thấy rõ vai trò của rừng ngập mặn đối với việc bảo vệ đê điều nên ở các tỉnh ven biển như Cà Mau, Bạc Liêu, Nghệ An, Thái Bình, Quảng Ninh ... đều có phong trào trồng rừng ngập mặn.
b) Ở ven biển các tỉnh như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hà Tĩnh, Hải Phòng. Quảng Ninh, đều có phong trào trồng rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn còn được trồng ở các đảo mới bồi ngoài biển như cồn Vành, cồn Đen (Thái Bình), cồn Ngạn, Cồn Lu, Cồn Mờ (Nam Định) ....
Trả lời:
Sử dụng cặp quan hệ từ sử dụng cặp từ quan hệ từ chẳng những ... mà...
Chẳng những ở ven biển các tỉnh như Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Hà Tĩnh, Hải phòng, Quảng Ninh ... đều có phong trào trồng rừng ngập mặn rừng ngập mặn còn được trồng ở các đảo mới bồi ngoài biển như cồn Vành, Cồn Đen (Thái Bình) cồn Ngạn, cồn Lu, cồn Mờ (Nam Định) ....

3. Gạch chân những chỗ khác nhau giữa hai đoạn văn sau :
Trả lời:
a) Hôm sau, hai chú cháu ra đầm. Một vài con le ngụp lặn trước mũi thuyền. Nhìn ra phía trước, chợt thấy bẩy vịt đang đùa giỡn. Ò, có cả vịt nâu, vịt đầu đỏ, vịt lưỡi liếm và cả con vịt vàng cực hiếm. Tâm bất ngờ rút khẩu súng ra định bắn. Mai giật mình khiếp hãi. Cò bé bỗng thấy Tâm trở thành mối tai họa cho bầy chim. Chẳng kịp can Tâm, cô bé đứng hẳn lên thuyền xua tay và hô to :
- Úi, này ! Bay đi, bay đi...
Hôm sau, hai chú cháu ra đầm. Một vài con le ngụp lặn trước mũi thuyền. Nhìn ra phía trước, chợt thấy bầy vịt đang đùa giỡn, ô, có cả vịt nâu, vịt đầu đỏ, vịt lưỡi liềm và cả con vịt vàng cực hiếm. Tâm bất ngờ rút khẩu súng ra định bắn. Vì vây, Mai giật mình khiếp hãi. Cũng vì vậy, cô bé bỗng thấy Tâm trở thành mối tai họa cho bầy chim. chẳng kịp can Tâm nên cô bé đứng hẳn lên thuyền xua tay và hô to :
- Úi, này ! Bay đi, bay đi...

4. Đoạn nào trong hai đoạn trên hay hơn ? Vì sao?
Trả lời:
Đoạn a) hay hơn đoạn b), vì đoạn b) thêm vào một số quan hệ từ và cặp quan hệ từ nên câu văn trở nên nặng nề.

TẬP LÀM VĂN
LUYỆN TẬP TẢ NGƯỜI
(Tả ngoại hình)
Đề bài:
Dựa theo dàn ý mà em đã lập trong tuần trước, hãy viết một đoạn văn tả ngoại hình của một người mà em thường gặp.
(Chú ý đọc gợi ý trong sách Tiếng Việt 5, tập một, trang 132 trước khi làm bài)
Bài làm 1:
Em vẫn thường gặp cô Lan, cô giáo dạy em năm em học lớp một. Trong em, những ấn tượng tốt đẹp nhất về cồ mãi mãi không phai mờ.

Ngày đầu tiên, khi em bỡ ngỡ theo chân mẹ đến trường, cô đà để lại cho em những kỉ niệm khó phai. Cô đã dịu dàng đón chúng em ở của lớp, làm cho những học sinh lần đầu tiên tới trường như em thật an tâm và tin tưởng. Cô giáo em chừng hai sáu, hai bảy tuổi. Cô dong dỏng cao, khuôn mặt nhìn rất phúc hậu với ánh mắt dịu dàng và nhất là mái tóc. mái tóc cô đen, mượt mà như dòng suối; Hàm răng cô trắng và đều đặn ... Cô nhìn chúng em với ánh nhìn trìu mến, dắt tay từng bạn, đưa về chỗ ngồi, như một người mẹ hiền vậy.

Cô rất thương yêu chúng em, lúc chúng em nói chuyện, làm việc riêng trong giờ học cô chỉ dịu dàng nhắc nhở. Cô cầm tay cho từng bạn trong lớp, uốn từng nét chữ, đèm từng con sô... Cô còn là một đồng nghiệp thân thiện, hòa nhã với các giáo viển khác trong trường. Đối với em, cô giáo em là “giáo sư biết hết” vì cô có thể trả lời tất cả những thắc mắc của chúng em, từ chuyện bài học dêh những thắc mắc ngoài sách vở ...

Em rất yêu quý cô. Cho dù bây giờ em không còn học cô nữa nhưng em vẫn mong muốn mình học thật giỏi, thật ngoan để xứng đáng là học trò của cô. Em mong cô có sức khỏe để giảng dạy thật tốt, dể cô tiếp tục dìu dắt những lớp đàn em, như em ngày xưa, cái ngày đầu tiên bỡ ngỡ đến trường, rời tay mẹ, nắm lấy tay cô và thấy lòng mình ấm áp.

Bài làm 2:
Đầu làng tôi có một cây đa cổ thụ rất to, mấy người ôm không xuể. Bóng đa rộng che khắp một khoảng đất. Những ngày hè oi bức, đi đâu xa về được ngồi nghỉ ở quán nước dưới gốc đa thì bao mệt nhọc tự nhiên tan biến. Bán hàng nước là một cụ già hiền từ, nhân hậu. Ai là khách đã từng ngồi quán cũng phải cảm động vì sự tốt bụng của bà.

Bà cụ có lẽ hơn bảy mươi tuổi rồi. Sức nặng của thời gian thể hiện rõ nhất trên cái lưng còng. Những năm tháng vất vả đã đè nặng trên đôi vai run rẩy ấy. Tóc bà đã bạc. Chân tay cũng yếu hơn. Bàn tay bà nhăn nheo xuất hiện những vết đồi mồi. Chân bà cụ bị đau khớp nên ít khi đi lại. Tuy vậy, khuôn, mặt bà vẫn có nét hồng hào nhìn phúc hậu như một bà tiên. Đôi mắt bà vẫn còn tinh tường lắm. Bà cụ rất thích ăn trầu. Mỗi lần nhìn bà bỏm bẻm nhai tôi lại nhớ đến bà ngoại, bà tôi khi còn sống cũng hay ăn lá trầu không...

Bà cụ bán hàng nước hình như không có người thân thích. Bà lão ngồi ở gốc đa này bán hàng từ bao giờ. Chỉ biết từ lúc biết đi, tôi đã thấy bà ở đó rồi. Bao nhiêu năm đã trôi qua, hình ảnh bà cụ gắn liền với gốc đa, với mùa hè. Hàng năm, mỗi khi thấy bà cụ dọn hàng quán là tôi biết, mùa hạ đến rồi.
Bản quyền bài viết thuộc về Sachgiai.com. Ghi nguồn Sách giải.com khi đăng lại bài viết này.

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   
THÀNH VIÊN
Hãy đăng nhập thành viên để trải nghiệm đầy đủ các tiện ích trên site
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây