Giải vở bài tập Tiếng Việt 5 tập 1, tuần 7

Thứ hai - 31/08/2020 10:40

Hướng dẫn giúp các em học sinh giải vở bài tập Tiếng Việt 5 tập 1, tuần 7. Gồm các phần:
- Chính tả
- Luyện từ và câu: Từ nhiều nghĩa
- Tập làm văn: Luyện tập tả cảnh
- Luyện từ và câu: Luyện tập về từ nhiều nghĩa
- Tập làm văn: Luyện tập tả cảnh

CHÍNH TẢ
1. Điền một vần thích hợp với cả 3 chỗ trống dưới đây :
Trả lời:
Chăn trâu đốt lửa trên đồng
Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều
Mải mê đuổi một con diều
Củ khoai nướng để cả chiều, thành tro.

2. Điền tiếng có chứa ia hoặc iê thích hợp với mỗi chỗ trống trong các thành ngữ dưới đây :
Đông như kiến
Gan như cóc tía
Ngọt như mía lùi
LUYỆN TỪ VÀ CÂU
TỪ NHIỀU NGHĨA
I - Nhận xét
1. Nối mỗi từ ở cột A với lời giải thích hợp ở cột B:
Trả lời:

2. Nghĩa của từ răng, mũi, tai trong khổ thơ sau có gì khác với nghĩa của chúng ở bài tập 1.
- Răng của chiếc cào. Làm sao nhai được ?
Trả lời:
Răng của chiếc cào chỉ dùng để cào lúa, cào cỏ, không dùng để nhai như người và vật. 
- Mũi thuyền rẻ nước. Thì ngửi cái gì ?
Trả lời:
Mũi của chiếc thuyền chỉ là một bộ phận của chiếc thuyền, nó không thể ngửi được.
- Cái ấm không nghe. Sao tai lại mọc ?...
Trả lời:
Tai của cái ấm không dùng để nghe được.

3. Nghĩa của các từ răng, mũi, tai ở bài 1 và bài 2 có gì giống nhau?
Trả lời:
- Nghĩa của từ răng : đều chỉ vật nhọn, sắc, sắp đều nhau thành hàng.
- Nghĩa của từ mũi: đều chỉ bộ phận có đầu nhọn nhô ra phía trước.
- Nghĩa của từ tai : Cùng chỉ bộ phận mọc ở hai bên, chia ra như cái tai.

II - Luyện tập
1. Đọc các câu dưới đây. Gạch một (-) dưới các từ mắt, chân, đầu mang nghĩa gốc; gạch hai gạch (=) dưới các từ mắt, chân, đầu mang nghĩa chuyển :
Trả lời:
a) Mắt
- Đôi mắt của bé mỏ to.
- Quả na mở mắt.
b) Chân
- Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân.
- Bé đau chân.
c) Đầu
- Khi viết, em đừng ngoẹo đầu.
- Nước suối đầu nguồn rất trong.

2. Các từ chỉ bộ phận cơ thể người và động vật thường là từ nhiều nghĩa. Hãy tìm một số ví dụ về sự chuyển nghĩa của những từ cho trong bảng dưới đây :
Trả lời:
Từ nhiều nghĩa Ví dụ
lưỡi
miệng         
cổ
tay
lưng
M : lưỡi liềm, lưỡi cưa, lưỡi cày, lưỡi lê, lưỡi gươm, lưỡi búa, lưỡi rìu,...
miệng chén, miệng túi, miệng bao, miệng bình,...
cổ chai, cổ tay, cổ chân, cổ áo, cổ lọ, cổ bình,...
tay áo, tay ghế, tay quay, tay (chơi) bóng cừ khôi, tay súng thiện xạ,...
lưng ghế, lưng đồi, lưng núi, lưng trời, lưng chén, lưng li,...

 
TẬP LÀM VĂN
LUYỆN TẬP TẢ CẢNH
I. Đọc bài Vịnh Hạ Long (sách Tiếng Việt 5, tập một, trang (70 - 71), trả lời câu hỏi :
a) Xác định phần mở bài, thân bài, kết bài của bài văn :
Trả lời:
- Mở bài: Vịnh Hạ Long là một thắng cảnh ... đất nước Việt Nam.
- Thân bài: (Gồm ba đoạn tiếp theo) Cái đẹp của Hạ Long ... ngân lên vang vọng.
- Kết bài : (Câu văn cuối) Núi non mãi mãi giữ gìn.
b) Xác định các đoạn của thân bài. Nêu nội dung miêu tả của mỗi đoạn :
Trả lời:
Các đoạn Nội dung miêu tả của mỗi đoạn
Đoạn 1
Đoạn 2
Đoạn 3
- Tả sự kì vĩ của Hạ Long với hàng nghìn hòn đảo hình dạng khác nhau.
- Tả sự duyên dáng của Hạ Long, vẻ tươi mát, trẻ trung suốt bốn mùa.
- Tả những nét riêng biệt, hấp dẫn của Hạ Long qua mỗi mùa.

c) Những câu văn in đậm trong bài có vai trò gì trong mỗi đoạn và trong cả bài ?
Trả lời:
Những câu văn in đậm có vai trò mở đầu cho mỗi đoạn, là câu chốt của mỗi đoạn, nêu ý bao trùm toàn đoạn. Xét trong toàn bài, những câu văn đó có tác dụng chuyển đoạn, nối kết các đoạn với nhau.

2. Dưới đây là phần thân bài của một bài văn tả cảnh Tây Nguyên. Em hãy đánh dấu X vào trước câu mở đoạn thích hợp nhất cho sẵn dưới mỗi đoạn.
Đoạn 1
( ... ) Phần phía nam của dải Trường Sơn nằm ở đây với nhiều ngọn núi cao tử 2000 đến 2600 mét, quanh năm mây trắng phủ đầu. Bên những chóp núi cao là những thảm rừng dày. Có nhiều khu rừng nguyên sinh từ bao đời nay chưa in dấu chân người.
(X) Tây Nguyên có núi cao chất ngất, có rừng cây đại ngàn.
Đoạn 2
(... ) Những đồi tranh vàng óng lao xao trong gió nhẹ. Những đồi đất đỏ như vung úp nối nhau chạy tít tắp tận chân trời. Đó đây, những cụm rừng xanh thẫm như ốc đảo nổi lên giữa thảo nguyên. Những đồn điền cà phê, chè, ... tươi tốt mênh mông. Những rẫy lúa, nương ngô bên những mái nhà sàn thấp thoáng trải dài ven bờ suối, hoặc quây quần trên những ngọn đồi.
(X) Nhưng Tây Nguyên đâu chỉ có núi cao và rừng rậm. Tây Nguyên còn có những thảo nguyên rực rõ trong nắng dịu mùa xuân, như những tấm thảm lụa muôn màu, muôn sắc.

3. Hãy viết câu mở đoạn cho một trong hai đoạn văn ở bải tập 2 theo ý của riêng em :
Trả lời:
- Đoạn 1 :
+ Đến với Tây Nguyên ta sẽ gặp những ngọn núi cao chất ngất và rừng cây đại ngàn.
+ Vẻ đẹp của Tây Nguyên trước hết là ở núi non hùng vĩ và những thảm rừng dày.
Đoạn 2 :
+ Những cái làm nên đặc sắc của Tây Nguyên là những thảo nguyên bao la bát ngát.
+ Không chỉ hấp dẫn du khách bằng núi cao và rừng rậm, Tây Nguyên còn mời gọi khách tham quan bằng những thảo nguyên rực rỡ sắc màu. 

LUYỆN TỪ VÀ CÂU
LUYỆN TẬP VỀ TỪ NHIỀU NGHĨA
1. Nối mỗi câu ở cột A với lời giải nghĩa từ chạy thích hợp ở cột B :
Trả lời:


2. Dòng nào dưới đây nêu đúng nét nghĩa chung của từ chạy có trong tất cả các câu trên ? Đánh dấu X vào □ trước ỷ trả lời đúng :
Trả lời:
(X) Sự vận động nhanh.

3. Khoanh tròn vào chữ cái trước câu có từ ăn được dùng với nghĩa gốc.
a) Bác Lê lội ruộng nhiều nên bị nước ăn chân.
b) Cứ chiều chiều. Vũ lại nghe tiếng còi tàu vào cảng ăn than.
c) Hôm nào cũng vậy, cả gia đình tôi cùng ăn với nhau bữa cơm tối rất vui vẻ.
Trả lời:
Chọn c) Hôm nào cũng vậy, cả gia đình tôi cùng ăn với nhau bữa cơm tối rất vui vẻ.

4. Chọn một trong hai từ đi hoặc đứng, đặt câu để phân biệt các nghĩa của từ ấy :
- Em gái tôi đang chập
chững tập dị.
Trả lời:
a) Đi
- Nghĩa 1: tự di chuyển bằng bàn chân.
+ Em gái tôi đang chập chững tập đi.
- Nghĩa 2: mang (xỏ) vào chân hoặc tay để che, giữ.
+Mẹ nhắc tôi khi đi giày phải cột dây cho cẩn thận.
b) Đứng
- Nghĩa 1 : ở tư thế thân thẳng, chân đặt trên mặt nền.
+ Cả lớp đứng nghiêm chào cờ.
- Nghĩa 2 : ngừng chuyển động
- Thảo đứng trước cửa lớp chờ tôi.

TẬP LÀM VĂN
LUYỆN TẬP TẢ CẢNH
Dựa theo dàn ý mà em đã lập trong tuần trước, hãy viết một đoạn văn miêu tả cảnh sông nước.
(Chú ý đọc kĩ gợi ý trong sách Tiếng Việt 5, tập một, trang 74 trước khi làm bài)
Bài làm:
Nhà bà ngoại nhìn ra bến phà. Sáng sớm nhìn ra bờ sông, con nước đục ngầu phù sa, hiền hòa chảy. Trên mặt nước, từng đám lục bình trôi dập dềnh, những cánh hoa phơn phớt tím, rung rinh trong gió. Thỉnh thoảng, vài con thuyền chở đầy hàng hóa xuôi theo dòng nước, vài chiếc xà lan nặng nề chở cát, tưởng như sắp bị dòng sông nuốt chửng. Hai bên bờ sông, dày dừa nước lao xao, ẩn hiện sau đó là vài nóc nhà. Náo động nhất có lẽ là bến phà. Từng chuyến phà lớn, chỗ đầy người và xe cộ, hàng hóa chăm chỉ qua lại hai bờ sông. Hai bên bờ, hành khách chờ xuống phà, tiếng người xen lẫn tiếng xe, tạo thành dòng âm thanh ồn ào, náo nhiệt, ... Nắng sớm mai lấp lóa như dát vàng mặt nước. Dòng sông vẫn cuồn cuộn chảy đỏ sậm phù sa, mang nặng nghĩa tình của con sông đối với người và đất miền Tây.

Bài làm 2:
Những buổi sáng đẹp trời, nhất lại là những ngày phiên chợ, dòng sông mới nhộn nhịp làm sao! Quê em chợ huyện họp một tháng sáu phiên vào những ngày một và năm. Những ngày đó, dòng sông là một ngày hội. Ngay từ sáng sớm, khi mặt trời chỉ mới ló lên sau rặng tre phía xa thì từng đoàn thuyền đã đưa các bà, các chị lên chợ huyện, cách làng em chừng nửa tiếng đi đò. Những ngày nghỉ học, em được chị hai cho đi theo. Thuyền đi trong sương sớm, ngồi trên thuyền các bà các chị không ngớt lời trò chuyện. Dòng sông vang lên tiếng người nói. Từng đoàn thuyên đánh cá dong buồm thả lưới trang xóa cà dòng sông, những tiếng hò, tiếng hát vang lên như gọi mặt trời thức dậy. Những ngày không đi chợ cùng chị, em lại cùng các bạn đi cào hến, dậm trai ở ven sông, những bữa được nhiều, em lại mang cho cu Tít hàng xóm, thằng bé không may bị bại liệt hai chân sau một trận sốt ác tính. Mặt trời lên, dòng sông trở lại cành tĩnh yên của đồng quê. Nước trôi, cuốn theo nhưng cụm bèo lục bình. Bình yên, phẳng lặng như cuộc sống thanh thản chốn làng quê.

Bài làm 3
Bến sông quê hương lúc chiều về.
Chiều về là lúc bến sông quê tôi tấp nập nhất.
Đoàn thuyền chở các bà, các chị từ chợ huyện, chợ tỉnh về cập bến. Các bà các chị được đàn con ùa ra đón. Con lớn đỡ cho mẹ gánh hàng. Con nhỏ vòi mẹ chia quà. Tiếng cười nói rộn ràng cả một khúc sông, rồi ai về nhà nấy. Con thuyền neo vào bến đỗ. Đây cũng là lúc bọn tre chăn trâu lùa trâu xuống tắm. Bọn trẻ tắm cho trâu, rồi bọn trẻ giỡn nước. Chúng té nước cho nhau. Chúng chơi trò đánh trận. Một đứa kiếm đâu được trái bóng tròn. Thế là chúng ném bóng cho nhau. Một ý kiến được cả bọn chấp nhận: chơi bóng nước. Chúng chơi trò đánh trận. Một ý kiến được cả bọn chấp nhận: chơi bóng nước. Chúng chia làm hai phe, chuyền bóng cho nhau. Phe nào chuyền được sáu chuyền là thắng. Phe thua phải cõng phe thắng chạy dọc con sống suốt từ bến tắm đen tận gốc đa.
Bến sông quê tôi cứ rộn ràng như vậy cho đến lúc mặt trời lặn phía chân trời mới có chút bình lặng.
Bản quyền bài viết thuộc về Sachgiai.com. Ghi nguồn Sách giải.com khi đăng lại bài viết này.

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây