Loading...

Đề thi thử tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn, năm 2018 (Đề số 6)

Thứ bảy - 05/05/2018 09:16

Đề thi thử tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn, năm 2018, có đáp án và hướng dẫn giải

Loading...
Câu 1. Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:
Tây Tiến đoàn bỉnh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”

Câu 2. Phân tích vẻ đẹp của nhân vật Nguyệt trong truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu.
 
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
 
Câu 1
A. Yêu cầu chung
 
-Đây là kiểu bài bình giảng, do vậy trong khi làm bài, thí sinh có thể giảng rồi bình hoặc có thể kết hợp giảng và bình.
- Qua việc hình giảng đoan thơ, nêu bật được vẻ đẹp lí tưởng của người chiến sĩ Tây Tiến, khả nặng kết hợp giữa bút pháp hiện thực và cảm hứng lãng mạn của nhà thơ Quang Dũng.
 
B. Nội dung cần triển khai

I – Đặt vấn đề

Giới thiệu về tác giả, tác phẩm

1. Quang Dũng là một nhà thơ được biết nhiều trong kháng chiến chống thực dân Pháp, ông làm thơ, viết văn và vẽ tranh. Các tác phẩm của ông gồm Rừng biển quê hương (in chung 1957), Mùa hoa gạo (truyện ngắn 1950), Đường lên Châu Thuận. (1964), Rừng về xuôi (truyện kí, 1968), Mây đầu ô (1986),...
 
2. Tây Tiến là bài thơ đặc sắc của Quang Dũng (lúc đầu bài thơ có tên là Nhớ Tây Tiến). Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947. Địa bàn đóng quân và hoạt động của Tây Tiến khá rộng, từ Châu Mai, Châu Mộc sang sầm Nưa rồi vòng về phía tây Thanh Hóa. Chiến sĩ Tây Tiến, phần đông là thanh niên Hà Nội. Hoàn cảnh chiến đấu của họ rất gian khổ nhưng họ vẫn phơi phới tinh thần lãng mạn anh hùng. Đoạn thơ trích thể hiện cái hiện thực khắc nghiệt và cảm hứng lãng mạn của người chiến sĩ Tây Tiến.
 
II - Giải quyết vấn đề
 
Ở đây kết hợp giữa giảng và bình.
 
1. Hình ảnh người lính Tây Tiến
 
- Tập trung giảng và bình vế vẻ đẹp lãng mạn, Chú ý các từ “không mọc tóc”, “xanh màu lá” là cách diễn đạt phóng đại và lí tưởng hóa về một hiện thực khắc nghiệt : sốt rét rừng làm rụng tóc, xanh da, từ đó cho thấy hình ảnh rất thực của các chiến sĩ Tây Tiến. Chú ý bình các từ “không mọc tóc” (ở thế chủ động), “xanh màu lá” chứ không phải xanh xao. Người chiến sĩ ở đây như hòa với rừng cây, với lá ngụy trang.
 
- Tuy gian khổ, bệnh tật nhưng người chiến sĩ Tây Tiến vẫn giữ vẻ oai hùng, mang cả cái oai linh của rừng thẳm (chú ý các từ “dữ oai hùm”). Cách tả này phù hợp với chi tiết ở đoạn trên : “Cọp trêu người”. Quang Dũng đã nói đúng hiện thực nhưng không thật chú trọng đi sâu vào mặt gian khổ mà nghiêng về phía cái đẹp lãng mạn. Chữ nghĩa và bút pháp của Quang Dũng thật tài hoa. Bên cái bi của hoàn cảnh vẫn trỗi lên cái tráng của ngoại hình và tinh thần.
 
- Bằng thủ pháp dường như đối lập, Quang Dũng đã vừa khắc họa được vẻ đẹp hào hùng, kiêu dũng, vừa khắc họa được tâm hồn hào hoa và đa cảm của người chiến sĩ Tây Tiến. Vẻ đẹp này ít nhiều có khác với vẻ đẹp bình dị, lam lũ của người lính ra đi từ ruộng đổng trong bài thơ Nhớ của Hồng Nguyên, Đồng chí của Chính Hữu,...
 
2. Chất lãng mạn, mộng mơ của tâm hồn người lính
 
- Chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, ở những vùng đất xa xôi, hoang vu, hiểm trỏ nhưng tâm hồn người lính vẫn đầy chất lãng mạn, mộng mơ. Họ vẫn “gửi mộng qua biên giới”, vẫn “mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Có thể so sánh hình ảnh này với những câu thơ trong bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi:
 
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
 
- Những người chiến sĩ Tây Tiến hầu hết là những chàng trai thành thị khoác áo lính, nên dù ra đi chiến đấu, dấn thân vào gian khổ, họ vẫn giữ một tâm hồn hào hoa, thanh lịch. Chính chất lãng mạn, hào hoa này làm tăng thêm vẻ đẹp của người chiến sĩ Tây Tiến.
 
3. Phẩm chất người lính Tây Tiến
 
- Những nấm “mồ viễn xứ”, cái chết xa quê không ngăn cản được ý chí, tinh thần người chiến sĩ Tây Tiến : “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Chiến sĩ Tây Tiến quyết hiến dâng tuổi trẻ cho quê hương, đất nước. Ngay cả cái chết không áo quan cũng được nhà thơ biểu hiện trang trọng, hào hùng (bình cụm từ “áo bào thay chiếu”).

- Câu thơ cuối của đoạn trích thật hùng tráng : “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”. Không một giọt nước mắt, chí có con sông Mã thay lời sông núi “gầm lên” khúc đưa tiễn bi tráng.

- Đoạn thơ mang âm hưởng bi tráng. Tráng ở tinh thần và ở ý chí chiến đấu. Tráng ngay trong cái chết vốn rất buồn. Bi tráng chứ không phải bi lụy, bi quan.
 
III - Kết thúc vấn đề
 
- Đoạn thơ khắc họa được nét đẹp bi tráng, hào hoa của người chiến sĩ Tây Tiến.

- Bút pháp hiện thực kết hợp vối cảm hứng lãng mạn cách mạng tạo nên một khúc quân hành, một khúc độc hành oai hùng, đặc sắc.
 
Câu 2

A. Yêu cầu chung

- Trọng tâm của đề là phân tích vẻ đẹp của nhân vật Nguyệt, do vậy thí sinh phải vận dụng phương pháp phân tích nhân vật để làm bài.

- Việc phân tích nhân vật Nguyệt phải được đặt trong mối quan hệ với các nhân vật khác trong truyện, vẻ đẹp của nhân vật cũng được thể hiện qua bút pháp lãng mạn của Nguyễn Minh Châu.
 
B. Nội dung cần triển khai

I - Đặt vấn đề

1. Về tác giả

Nguyễn Minh Châu (1930 - 1989) là nhà văn xuất sắc, có vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại cả trước và sau 1975. Ông có nhiều tìm tòi và thể nghiệm trong sáng tạo nghệ thuật (cả tiểu thuyết lẫn truyện ngắn). Trước 1975 Nguyễn Minh châu là một phong cách hiện thực đậm đà màu sắc lãng mạn cách mạng Mảnh trăng cuối rừng, cửa sông, Dấu chân, người lính). Trong thời kì Đổi mới, Nguyễn Minh Châu nghiêng về phong cách hiện thực tỉnh táo (Khách ở quê ra, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Phiên chợ Giát),
 
2. Về tác phẩm
 
Mảnh trảng cuối rừng (lúc đầu có tên là Mảnh trăng) là truyện ngắn xuất sắc tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Minh Châu thời chống đế quốc Mĩ. Truyện rút ra từ tập Những vùng trời khác nhau (1970) của ông, miêu tả một cuộc tình tuyệt đẹp giữa Nguyệt và Lãm thời chiến tranh, cảm hứng bao trùm của truyện là cảm hứng lãng mạn, trữ tình trên cái nền hiện thực...
 
II- Giải quyết vấn đề
 
Vẻ đẹp của nhân vật Nguyệt thể hiện ở nhiều phương diện như : ngoại hình, tâm hồn, hành động. Thí sinh có thể kết hợp phần tích các phương diện để chỉ ra vẻ đẹp của nhân vật này.
 
1. Nguyệt là cô gái đẹp, hiện thân của sự tinh khiết, trẻ trung và tươi sáng
 
- Qua cái nhìn của nhân vật Lãm, vẻ dẹp của nhân vật Nguyệt được khám phá thông qua những ánh sáng khác nhau: qua ánh đèn gầm, Nguyện hiện ra tinh khiết, thanh sạch (một đôi gót chân hồng hồng, sạch sẽ, đôi dép cao su cũng sạch sẽ...) ; qua ánh đèn xe xích loang loáng, Nguyệt hiện ra nhẹ nhàng, kín đáo vẻ xinh đẹp của cô gái, một vẻ đẹp giản dị và mát mẻ như sương núi tỏa ra từ nét mặt, lời nói và tâm thán mãnh dẻ....... cô ta mặc áo xanh chít hông vừa khít, mái tóc dày tết thành hai dải... Khi ánh trảng chiêu vào ca bin, Nguyệt đẹp một cách kì ảo, lạ thường (từng sợi tóc của Nguyệt đều sáng lên, mái tóc thơm ngát, dày và trẻ trung làm sao ). “Mảnh trăng cuối rừng” là biểu tương vẻ đẹp của Nguyệt. Vì thế khi ánh trăng chiếu thẳng vào cabin nơi Nguyệt ngồi (có nghĩa là biểu tượng nhập vào nhân vật) thì vẻ đẹp chân dung của nhân vật hiện lên rạng rỡ khác thường.
 
- Với bút pháp lãng mạn cách mạng, nhân vật được nâng cao, được tập trung miêu tả vẻ đẹp ngời sáng, vẻ đẹp của lí tưởng. Qua lời kể của chị Tính, Nguyệt hiện lên như một cô gái “rất ngoan ngoãn và tích cực ; trên đời khó tìm được một người con gái như thế...”
 
2. Nguyệt là một cô gái thông minh, dũng cảm, biết sống vì người khác:

- Trong chiến đấu, Nguyệt rất dũng cảm và dày dạn kinh nghiệm, khéo léo xử lí các tình huống (khi xe Lãm bị máy bay đuổi, Nguyệt nhanh nhẹn dẫn đường cho xe đi theo, dũng cảm dập lửa cứu xe cháy, nhận hiểm nguy về mình, khi bị thương vẫn mỉm cười...). Trong những tác phẩm lãng mạn cách mạng, nhân vật thường bị thử thách trong những tình huống căng thẳng, đầy kịch tính (Nguyệt dẫn xe qua ngầm trong lúc máy bay địch đang đánh phá). Vượt qua những tình huống ấy, nhân vật sẽ hiện ra như một anh hùng ngời sáng (trong tâm hồn Lãm “dấy lên một tình yêu Nguyệt gần như mê muội lẫn cảm phục”).
 
3. Nguyệt là cô gái có tình yêu trong sáng và niềm tin mãnh liệt vào cuộc sống

- Tự nguyện đính ước với Lãm - người chưa quen biết nhưng Nguyệt vẫn trung thành, thủy chung (“Qua bấy nhiêu năm tháng sống giữa cảnh bom đạn tàn phá..., vậy mà Nguyệt vẫn không quên tôi sao ? Cái sợi chỉ xanh óng ánh ấy, bao nhiêu bom đạn giội xuống cũng không hề đứt, không thể nào tàn phá nổi ư ?”).
 
- Suy nghĩ của Lãm ở phần kết thúc tác phẩm chính là tư tưởng - chủ đề của tác phẩm. Trong tâm hồn của Nguyệt có vẻ đẹp tiềm tàng của con người Việt Nam thời kì chống Mĩ cứu nước, vẻ đẹp ẩn giấu mà tác giả đang tìm kiếm.
 
III - Kết thúc vấn đề
 
- Vẻ đẹp của Nguyệt là vẻ đẹp của chủ nghĩa anh hùng của con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đồng thời cũng là tình yếu thủy chung và niềm tin trong sáng vào cuộc sống với tấm lòng vị tha và đức hi sinh cao cả.
 
- Nguyễn Minh Châu dã đi tìm và đã phát hiện được “viên ngọc ẩn giấu trong bể sâu tâm hồn con người” và lưu giữ lại trong người đọc một hình tượng đẹp như “mảnh trăng cuối rừng”.
Loading...
 

 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Bài cùng chuyên mục: Lớp 12

 

Xem tiếp...

Bài viết mới

 

Bài viết cũ

Loading...
XEM NHIỀU TRONG TUẦN
Loading...