Loading...

Đề thi thử tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn, năm 2018 (Đề số 18)

Thứ hai - 07/05/2018 10:12

Đề thi thử tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn, năm 2018, có đáp án và hướng dẫn giải

Loading...
Câu 1. Anh (chị) hãy nêu những nét chính về sự nghiệp văn học của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh (40 dòng)
 
Câu 2. Anh (chị) hãy bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận :
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống trời lên sâu chót vót
Sông dài trời rộng bến cô liêu
 
Câu 3. Anh (chị) hãy phân tích ý nghĩa tư tưởng và nghệ thuật của đoạn văn miêu tả cảnh cho chữ trong truyện ngắn Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân.
 
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI
 
Câu 1

1- Hồ Chí Minh (1890-1969) là vị lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, là người anh hùng giải phóng dân tộc, là chiến sĩ cộng sản quốc tế lỗi lạc, đồng thời là danh nhân văn hóa xuất sắc của nhân loại. Mặc dù không có ý định lập thân bằng con đường văn chương nhưng trên hành trình hoạt động cách mạng, Người đã sáng tác được nhiều tác phẩm văn chương có giá trị và trở thành nhà thơ, nhà văn lớn của dân tộc. Sự nghiệp văn học của Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng, gồm 3 bộ phận chủ yếu: văn chính luận, truyện và kí, thơ ca.

2. Văn chính luận

Những tác phẩm chính luận của Hồ Chí Minh được viết ra với mục đích đấu tranh chính trị, thể hiện những nhiệm vụ của cách mạng trong từng giai đoan lịch sử : Bản án chế độ thực dân Pháp (1925), Tuyên ngôn Độc lập (1945), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946), Không có gì quý hơn Độc lập Tự do (1966), Di chúc (1969),...
 
3. Truyện và kí
 
- Trong những năm 1922-1925, Bác Hồ viết nhiều truyện ngắn và tiểu phẩm để đả kích, châm biếm, tố cáo kẻ thù. Tiêu biểu là các tác phẩm Pari (1922), Lời than vãn của bà Trưng Trắc (1922), Con, người biết mùi hun khói (1922), Đồng tâm nhất trí (1922), Vi hành (1923), Những trò lố hay là Varen và Phan Bội Châu (1925), Con rùa (1925) với bút danh là Nguyễn Ái Quốc.
 
- Sau Cách mạng tháng Tám, Hồ Chí Minh còn viết một số tác phẩm kí với những bút danh khác nhau : Những mâu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (Trần Dân Tiên), Vừa đi đường vừa kể chuyện (T.Lan)...
 
4. Thơ ca

Hồ Chí Minh là nhà thơ lớn của dân tộc. Sự nghiệp thơ ca của Người gồm trên 250 bài thơ được in trong 3 tập Nhật kí trong từ (133 bài), Thơ Hồ Chí Minh (86 bài), Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (36 bài). Đây là lĩnh vực nổi bật trong giá trị văn chương của Hồ Chí Minh.
 
Câu 2
 
1. Giới thiệu khổ thơ
 
- Tràng giang của Huy Cận triền miên nỗi buồn nhân thế, khắc khoải nỗi nhớ không gian từ nỗi nhớ không gian, nhà thơ đã bộc lộ tâm trạng nhớ quê hương, đất nước.
 
- Xuyên suốt bài thơ là hai hệ thống hình ảnh tương phản, tương phản giữa không gian rộng lớn mênh mông và những sự vật bé nhỏ, lẻ loi, nổi trôi vô định. Tư tưởng – chủ đề chính của Tràng giang là nỗi cô đơn, rợn ngợp của cá thể trước cái không gian mênh mông (và thời gian xa thẳm). Một tư tưởng - chủ đề khác là lòng yêu quê hương, đất nước.
 
2. Cảnh thiên nhiên bên bờ tràng giang
 
Từ dòng sông dài rộng, không gian được mở rộng về phía đôi bờ. Không gian mở rộng, cảnh vật càng trống vắng, hiu hắt “cồn nhỏ lơ thơ”, “ngọn gió đìu hiu”. Nơi đây không hề có bóng người và đâu đây vọng lại mơ hồ tiếng “làng xa vãn chợ chiều”, có mà hóa ra không có.

3. Hình ảnh bầu trời sâu thẳm gợi lên sự vô hạn của vũ trụ. Nhìn những tia nắng chiếu rọi xuống, nhà thơ cảm thấy bầu trời được nâng lên, sâu thẳm.
 
“Sâu chót vót” vừa diễn tả chiều cao, vừa gợi lên chiều sâu thăm thẳm không cùng. Một không gian ba chiều được mỏ ra mà chiều nào cũng không có giới hạn.
 
4. Từ không gian rộng lớn nổi rõ hình ảnh “bến cô liêu”. Đây là bình ảnh biểu hiện sự cô đơn của cá thể. Từ không gian trống vắng, nhà thơ đã nói lên tâm trạng buồn bã, cô đơn của mình. Nỗi buồn của Huy Cận không phải xuất phát từ cảnh ngộ của cá nhân mà từ “nỗi buồn sông núi”.
 
Học sinh cần nhận xét về thể thơ, giọng điệu, từ láy “lơ thơ”, “đìu hiu”, “chót vót” trong việc thể hiện nội dung của đoạn thơ.
 
Câu 3

1. Giới thiệu đoạn văn

Chữ người tử từ là truyện ngắn xuất sắc trong tập truyện Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân. Truyện viết về một tử tù tài hoa, khí phách và có thiên lương trong sáng gặp gỡ một viên quản ngục có sỏ thích cao quý, có “tấm lòng biệt nhỡn liên tài”- Từ cuộc gặp gõ bất ngờ và thú vị này, nhà văn Nguyễn Tuân đã miêu tả “một cảnh tượng xưa nay chưa từng có”, cảnh tượng Huấn Cao cho chữ để đáp lại một tấm lòng trong thiên hạ.
 
2. Không gian và thời gian của cảnh cho chữ
 
-  Cảnh cho chữ thường diễn ra trong thư phòng hoặc ngoài vườn hoa. ở đây cảnh cho chữ diễn ra vào lúc đêm khuya, trong một “buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, tương đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột, phân gián”.
 
- Đối lập với không gian nhà lao tối tăm, bẩn thỉu là hình ảnh ngọn đuốc rực sang, tấm lụa trắng tinh, chậu mực thơm.
 
- Từ cảnh tượng này, Nguyền Tuân muốn nói rằng, ở đâu có người tốt thì ở đó cái Đẹp được tôn vinh, trân trọng. Cũng từ cảnh tượng này, Nguyễn Tuân còn muốn nói rằng, khi ngoài đời cái xấu, cái ác đang ngự trị thì cái Đẹp phải tạm thời ẩn thân vào những nơi như thế mối tồn tại được.
 
3. Sự chiến thắng của tài hoa và nhân cách
 
- Khi cuộc viết chữ diễn ra củng là khi có sự thay bậc đổi ngôi nhanh chóng. Người tử tù “cổ đeo gông, chân vướng xiềng” nhưng hiện lên đĩnh đạc, hiên ngang như một ngươi nghệ sĩ tự do. Ông đang sáng tạo ra cái Đẹp bằng tài hoa và nhân cách của mình. Còn những người có quyển lực như quản ngục, thơ lại thì “khúm núm”, “run run”. Uy quyền bị khuất phục bởi cái Đẹp. Cái Đẹp bỗng trở nên thiêng liêng khi “cứu rỗi những tâm hồn người”.

- Cái Đẹp có khả năng bảo vệ thiên lương, cái Đẹp làm cho con người xích lại gần nhau, cái Đẹp hướng con người vươn tói cái Thiện.
 
4. Thái độ của con người trước tài hoa và nhân cách
 
- Quản ngục và thơ lại là những người có lương tâm, lương tri. Những người ấy tuy ở trong môi trường tăm tối nhưng vẫn giữ được tâm hồn trong sáng. Thái độ trân trọng cái Đẹp, trân trọng người Tài đã thể hiện thiên lương của quản ngục và thơ lại.
 
- Khi Huấn Cao khuyên bảo quản ngục nên nhanh chóng rời khỏi chốn nhơ bẩn này, quản ngục rất cảm động “vái người tù một vái” và nghẹn ngào nói : “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Qua chi tiết này Nguyễn Tuân muốn nói rằng, con người cần biết sống ngẩng cao đầu nhưng có lúc cùng cần phải biết vái lạy nữa. Vấn đề là vái lạy ai và vái lạy cái gì. Có cái vái lạy làm cho con người trở nên thấp hèn, có cái vái lạy làm cho con người trở nên cao cả. Khi con người biết vái lạy cái thiêng liêng cao cả và cái đẹp, con người sẽ trở nên cao đẹp hơn.
 
5. Đoạn văn miêu tả cảnh cho chữ thể hiện trình độ nghệ thuật ngôn từ điêu luyện của Nguyễn Tuân. Văn của Nguyễn Tuân giàu hình ảnh, gợi lên không khí cổ kính, trang nghiêm phù hợp với không khí thiêng liêng của cảnh cho chữ. 
Loading...
 

 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Bài cùng chuyên mục: Lớp 12

 

Xem tiếp...

Bài viết mới

 

Bài viết cũ

Loading...
XEM NHIỀU TRONG TUẦN