Loading...

Đề thi thử tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn, năm 2018 (Đề số 32)

Thứ ba - 08/05/2018 09:04

Đề thi thử tốt nghiệp THPT môn Ngữ Văn, năm 2018, có đáp án và hướng dẫn giải

Loading...
Câu 1. Sách Văn học 12, tập một, Nhà xuất bản Giáo dục, 2000, trang 62 có câu :
“Nhà văn Tô Hoài coi Đôi mắt là một tuyên ngôn nghệ thuật của một thế hệ nhà văn như Nam Cao, Tô Hoài...”.
Tuyên ngôn nghệ thuật đó được thể hiện qua hình tượng văn sĩ Độ như thế nào ?

Câu 2. Phân tích bức tranh tâm cảnh trong bài Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử :
 
Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt, quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền ?
 
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sống trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà ?
 
(Văn học 11, tập một, Nxb Giáo dục , 2000, tr. 145,146)
 
Câu 3. Phân tích nhân vật Nguyệt trong truyện ngắn Mảnh trăng cuối rừng của Nguyễn Minh Châu để làm rõ vẻ đẹp lí tưởng của hình tượng này.
 
HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

Câu 1

I - Yêu cầu về nhận thức đề

1. Nam Cao là nhà văn rất có ý thức trong việc bộc lộ quan điểm sáng tác văn chương qua tác phẩm của mình.
 
Trước Cách mạng tháng Tám, ông đề cao quan điểm hiện thực chủ nghĩa (nhà văn khi sáng tác phải phản ánh trung thực cái đau khổ của nhân dân chứ không nên tô hồng cuộc sống của họ) và theo ông, xã hội cần những nhà văn thực sự có những sáng tạo riêng, chứ không cần nhà văn sáng tác theo khuôn mẫu có sẵn (Trăng sáng, Đời thừa - 1943), Quan điểm này chính là tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao trước Cách mạng.
 
Sau Cách mạng, trong khi có những nhà văn lớp trước chưa nhận ra hướng đi, họ có cách nhìn đời, nhìn người khác nhau, thậm chí trái ngược nhau thì Nam Cao thể hiện cách nhìn của mình (nhìn cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp, và người nông dân - lực lượng chủ lực của cuộc kháng chiến ấy) qua Đôi mắt (1948). Đây cũng là tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao, hơn thế, còn là “tuyên ngôn của một thế hệ nhà văn như Nam Cao, Tô Hoài...”.
 
2. Câu hỏi này yêu cầu thí sinh xác định rõ nội dung tuyên ngôn nghệ thuật trong Đôi mắt và nội dung ấy được thể hiện qua hình tương văn sĩ Độ như thế nào, chứ không yêu cầu thí sinh phân tích ki nhân vật Hoàng và Độ như kiểu phân tích một nhân vật văn học.
 
II - Nội dung cần trả lời

1. Tuyên ngôn về mục tiêu của văn học, về quan điểm, lập trường của nhà văn và chất lượng tác phẩm văn học
 
- Văn học phải phục vụ kháng chiến, và chỉ có như thế người nghệ sĩ mới tìm được nguồn cảm hứng cho sự sáng tạo vô tận của mình.
 
- Nhà văn muốn viết được tác phẩm tốt (phản ánh chân thật, sinh động cuộc sống) để phục vụ kháng chiến, nhất thiết phải có cái nhìn chính xác bản chất của nhân dân lao cộng (cụ thể là nông dân), không nên nhìn người nông dân và cuộc kháng chiến một cách phiến diện, một chiều.
 
Tóm lại, qua Đôi mắt, Nam Cao muốn nêu lên vấn đề cách nhìn và phải thay đổi cách nhìn thay đổi tư tưởng và nếp sống của nhà văn trong hoàn cảnh kháng chiến khó khăn, gian khổ lúc bấy giờ (1948), để toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng.
 
2. Nội dung của tuyên ngôn nghệ thuật nói trên được thể hiện qua hình tượng văn sĩ Độ
 
a) Phần lớn dung lượng câu chuyện dành cho việc miêu tả nhân vật Hoàng , và thông qua các chi tiết đáng chú ý về nhân vật này (do Độ là người kháng chiến kể lại, một lối kể rất tự nhiên,...) ta thấy thái độ không đồng tình của Độ đối với Hoàng (bộc lộ gián tiếp) :
 
+ Nuôi chó béc giê (mỗi ngày cho ăn hai lạng thịt bò) khi hàng triệu người dân không có gì ăn phải tiết kiệm để dành lương thực cho kháng chiến. Kháng chiến gian khổ (tản cư xa hàng trăm ki lô mét) vẫn nuôi chó như một nhà giàu, như là một thú vui.
 
+ Thấy anh nông dân vác bó tre... cũng như cán bộ uỷ ban kém văn hoá, Hoàng vừa chế giễu, vừa trốn tránh tham gia công việc kháng chiến (như việc dạy bình dân học vụ hoặc làm cán bộ tuyên truyền).
 
+ Toàn dân tham gia kháng chiến, (mỗi người một việc) còn Hoàng thì không làm gì, giao du với hạng trí thức cặn bã (quan lại cũ) bằng việc chơi tổ tôm giết thời gian..,
 
b) Tuyên ngôn nghệ thuật được thể hiện qua sự bộc lộ trực tiếp thái độ của văn sĩ Độ :
 
+ Khi Hoàng tỏ ra buồn vì không có việc gì làm, chỉ quanh quẩn chơi tổ tôm với bọn quan lọi cặn bã, Độ nói : “Tôi thầm rủa sự tình cờ sao lại đẩy anh về đây cùng với bằng ấy thứ cặn bã của giới thượng lưu trí thức. Sao anh không đi bộ đội, đi diễn kịch tuyên truyền, nhập bọn với các đoàn văn hoá kháng chiến..., những bạn văn nghệ sĩ của anh đang mải mê đi sâu vào quần chúng để học và dạy họ, đồng thời tìm những cảm hứng mới. cho văn nghệ” (còn Độ thì sẵn sàng phục tùng sự phân công của cách mạng, chịu làm anh tuyên truyền viên nhãi nhép).
 
+ Độ biết rõ hạn chế của người nông dân, nhưng đến hồi tổng khởi nghĩa thì “mới ngã ngửa ra”. “Té ra người nông dân nước mình vẫn có thể làm cách mạng mà làm cách mang hăng hái lắm” (Độ nhìn thấy cả hạn chế và bản chất quý giá của người nông dân Việt Nam : tinh thần đấu tranh chống áp bức và xâm lược).
 
Trước lời chê bai, khinh thường người nông dân của Hoàng, Độ thể hiện cách nhìn khác hẳn với Hoàng : “Vẫn giữ đôi mắt ấy để nhìn đời thì càng đi nhiều càng quan sát lầm, người ta chỉ càng thêm chua chát và chán nản”. Điều đó có nghĩa là nếu nhìn đúng thì sẽ có hướng đi đúng cho sáng tác. Đôi mắt có ý nghĩa là sự nhận đường của các nhà văn sau Cách mạng tháng Tám là vì thế.
 
Câu 2
 
Yêu cầu về nội dung
 
Những nội dung cần có
 
1. Nêu vắn tắt về tác giả và hoàn cảnh sáng tác bài thơ
 
Hàn Mặc Tử là một trong số các nhà thơ lớn của phong trào Thơ mới. Cuộc đời gặp bất hạnh : bị bệnh hiểm nghèo, mất sớm ở tuổi chưa đến 30. Ông là một hồn thơ mãnh liệt. Trong thơ Hàn Mặc Tử, bên cạnh những bài tạo nên một thế giới nghệ thuật có phần siêu thực, biểu hiện cuộc vật lộn giữa linh hồn và xác thịt, có những bài tạo nên những hình ảnh tuyệt mĩ, trong trẻo, hồn nhiên. Đây thôn Vĩ Dạ mang bút pháp lãng mạn là một trong những bài thơ như thế.
 
Đây thôn Vĩ Dạ in trong tập Thơ điên. Tác giả đang ở Quy Nhơn. Lúc này ông đã biết mình bị bệnh hiểm nghèo. Một hôm, ông nhận được tấm bưu thiếp của một thiếu nữ từ Huế gửi vào kèm theo lời thăm hỏi và an ủi. Tấm bưu thiếp và lời thăm hỏi đả khơi nguồn cảm hứng cho ông sáng tác nên bài thơ này.
 
2. Phân tích bức tranh tâm cảnh trong một số khổ của bài thơ
 
- Nêu cảm nhận chung về bài thơ
 
Đây thôn Vĩ Dạ có một số chất liệu lấy từ cảnh vật và con người thôn Vĩ. cảnh ở đây được tái hiện trong tâm trí của tác giả, vừa như một kỉ niệm, vừa như một ước mơ, cảnh đẹp nhưng thấm đượm tâm trạng buồn, thất vọng, cảnh và tình hoà quyện trong nhau được thể hiện bằng những hình tượng thơ độc đáo, ngôn ngữ sáng tạo.
 
- Cảnh thôn Vĩ tươi đẹp, thể hiện niềm khát khao được đến với Huế
Sau lời mời chào pha chút trách nhẹ của người thiếu nữ mà tác giả - nhân vật trữ tình của bài thơ - thầm yêu mến, cảnh và người thôn Vĩ hiện lên trong tâm trí đẹp đẽ, tươi tắn và tinh khiết. Những ấn tượng đẹp đẽ ấy về Huế nói lên lòng yêu và sự ước mong được đến với cảnh và người xứ Huế.
 
Ở khổ 1, phần ngoại cảnh khá rõ. Chỉ từ khổ 2 về sau mới là tâm cảnh. Gọi toàn bộ bài Đây thôn Vĩ Dạ là “bức tranh tâm cảnh” có lẽ chưa thật chính xác.
 
Yêu cầu phân tích làm rõ ý trên:
 
+ Phân tích các hình ảnh ; hàng cau chan hoà nắng sớm, vườn xanh mướt, khuôn mặt chữ điền thấp thoáng sau cành lá trúc. Đáng chú ý là ở khổ thơ này, thời gian, không gian và cảnh vật đều rõ nét, ánh sáng và màu sắc đều tươi sáng.
 
+ Phân tích ngôn từ :
 
Câu hỏi tu từ “Sao anh không về ?”, “Vườn ai ?”
Các hiện tượng lặp từ ngữ : Nắng... nắng
So sánh tu từ : “xanh như ngọc”.
 
- Cảnh dòng sông tĩnh lặng, thơ mộng thể hiện tâm trạng buồn, tuyệt vọng và một ước mơ về hạnh phúc
 
+ Phân, tích hình ảnh : Hình ảnh có tính biểu trưng : “Gió theo lối gió mây đường mây”. Câu thơ này hoàn toàn là tâm cảnh, cũng tựa như “Anh đi đàng anh, tôi đàng tôi” của Thế Lữ trong bài cảm để Đoạn tuyệt. Bởi vì ở ngoài đời thì không thể gió thổi một đường, mây bay một nẻo được. Đây là nỗi buồn của Hàn Mặc Tử khi thấy mối tình của mình với Hoàng Thị Kim Cúc hoàn toàn tuyệt vọng (Hàn Mặc Tử bị bệnh phong). Dòng sông có hoa bắp lay bên bờ ; mặt sông và con thuyền ngập tràn ánh trăng,.,. Tất cả những hình ảnh trên đều đẹp, thơ mộng nhưng đều thấm thía nỗi buồn : dòng nước buồn thiu, sông chỉ có trăng mà không có người, thuyền đợi mà khách không đến,...
 
+ Phân tích ngôn từ : Những cách kết hợp từ độc đáo tạo nên các ẩn dụ, hoán dụ : dòng nước buồn thiu, sông trăng, (thuyền) chở trăng,... ; cách điệp ngữ : Gió... gió, mây... mây ; câu hỏi tu từ cuối khổ thơ,... Các biện pháp tu từ này góp phần diễn tả không gian trống vắng và đó cũng là cảm giác về sự trống trải trong tâm hồn.
 
+ Phân tích cấu tứ : So sánh cảnh và tình trong khổ 1 với cảnh và tình trong khổ 2, để thấy sự vận động về không gian, thời gian, sự biến đổi vế màu sắc, đường nét, ánh sáng,... Tất cả những sự vận động đó đều nói lên tâm trạng buồn cô đơn.
 
- Cảnh không gian xa cách, nhạt nhoà, thể hiện những tình cảm đẹp, trong sáng nhưng buồn và thoáng một chút băn khoăn hoài nghi
+ Phân tích hình ảnh : Người thiếu nữ áo trắng trên con đường xa bị nhoè mờ sau làn sương khói.
 
+ Phân tích ngôn từ : Sự lặp lại từ “không” ở khổ đầu và khổ cuối. Cách lặp ngữ “khách đường xa” lặp từ “ai”, và câu hỏi tu từ cuối khổ thơ.
 
+ Phân tích cấu tứ : So sánh cảnh và tình ơ khổ 3 vói hai khổ đầu về không gian, thời gian, màu sắc, đường nét,...
 
Những phân tích trên hướng tới làm rõ được ý chính sau đây : áo em thì trắng mà xứ Huế lại nhiều sương khói mông lung nên chỉ thấy “mờ nhân ảnh”. Nhưng ở đây không phải là chuyện ảnh mà là chuyện “tình ai có đậm đà” bền chặt hay không, hay cũng chỉ mờ ảo sương khói như đất trời xứ Huế ?
 
Câu 3. Học sinh tự giải.
Loading...
 

 
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

  Ẩn/Hiện ý kiến

Mã chống spam   

Bài cùng chuyên mục: Lớp 12

 

Xem tiếp...

Bài viết mới

 

Bài viết cũ

Loading...
XEM NHIỀU TRONG TUẦN